Hương vị bánh quê

Ngày còn bé ở quê, hàng quán bán quà bánh không nhiều nên mỗi khi nghe má hay bà ngoại gợi ý làm bánh thì bọn trẻ chúng tôi rất mừng. Bánh làm ở nhà vừa ít tốn kém mà tha hồ ăn bao nhiêu cũng được, hỏi làm sao không thích?

Loại bánh dễ làm thường là bánh lá. Ngâm gạo với nước nóng cho mềm rồi đổ vào cối xay nhuyễn thành bột, lọc bột càng kỹ bánh càng ngon. Cho vào vải bồng, dằn ráo nước. Lúc pha bột, nếu muốn bánh có màu xanh đẹp, thơm thì pha nước lá dứa. Để tráng bánh, dùng lá dừa nước cắt lấy đoạn giữa dài chừng 20 cm, rửa sạch. Chuẩn bị một nồi hấp lớn, bên trong gài vỉ tre cách mặt nước sao cho khi sôi không trào ướt bánh. Người làm quen tay thao tác sẽ thật gọn gàng, khéo léo. Một tay cầm bẹ lá hờ trên thau bột, tay kia dùng vá múc bột tráng lên mặt lá rồi đặt nhanh trên vỉ cho tới khi đầy. Đậy vung chừng vài phút là bánh chín, gắp từng lá bánh ra rồi tráng bánh hấp tiếp tục. Cần có người giúp tay gỡ bánh cho nhanh, xếp thành từng lớp đều đặn. Vắt nước cốt dừa cho lên bếp, khi sôi bùng thêm ít muối, đường, hành lá vào, nhắc xuống. Những con bánh lá  sắp ra dĩa, chan nước cốt dừa, thong thả ăn để cảm nhận được cái dẻo của bột hấp, mùi thơm của lá dứa, hành, vị béo ngọt lẫn vị mằn mặn; no bụng lúc nào chẳng hay. Còn muốn ăn khô thì nạo dừa rắc lên bánh lá, thêm muỗng muối mè, đậu phộng đập dập, trộn đều, ngon không kém. Cả nhà quây quần, cùng làm cùng ăn, thú vị vô cùng!

Bánh dừa là loại bánh đặc trưng miền Nam. Trộn lẫn với nếp bằng đậu đen hay đậu xanh hấp nguyên hột với dừa xác nạo hoặc chuối xiêm. Dùng lá dừa tươi non gói bánh chặt chẽ, cho vào nồi nấu vài ba giờ đồng hồ thì chín. Bánh còn nóng hôi hổi ăn mới thật ngon. Đi ruộng, cầm theo vài cặp bánh phòng lúc đói ăn cũng đỡ dạ. Thường làm vừa đủ ăn vì bánh dừa không để được lâu. Nhưng cái không khí xúm xít, bận rộn lúc gói bánh, chờ bánh chín thì khó mà quên được. Điều bình thường là cùng tên bánh, nhưng cách chế biến nhân bánh, lá gói… mỗi địa phương có khác.

Thời bà ngoại tôi còn sống, ưa bày đổ bánh khọt, loại bánh làm khá công phu mà bây giờ giới trẻ ít biết đến. Bột gạo phải thật “tới”, nêm muối, đường, vài trứng gà, chút nước cốt dừa, hành lá xắt nhuyễn, bột nghệ cho bánh có màu vàng tươi, trộn tất cả thật đều. Chuẩn bị nhân bánh là thịt nạc heo xắt nhỏ, tôm hoặc tép, củ sắn, củ hành bằm, nêm gia vị xào chín. Khuôn bánh khọt bằng đất nung, thường có 8 tới 10 lỗ trũng đường kính cỡ cái bánh bèo, dùng lâu ngày lên màu đen bóng. Đặt khuôn lên bếp cho nóng, thoa mỡ hay dầu ăn vào khuôn cho bánh không dính. Múc bột cho vào các khuôn, rắc nhân bên trên rồi đậy vung lại, đôi phút là bánh chín. Dùng muỗng lấy bánh ra rất dễ dàng. Cứ tiếp tục đổ bánh cho tới khi hết bột, nhân; thường làm quen tay thì không thừa, không thiếu. Ăn kèm với rau sống chấm nước mắm chanh tỏi giống như ăn bánh xèo, có điều cái bánh gọn và đậm đà hơn. Mỗi lần bà ngoại làm bánh khọt thì buổi đó nhà nấu ít cơm mà có khi không ai ăn vì còn no…bánh. Nhiều năm nay, tôi chưa thấy lại “mặt mày” cái bánh khọt, trong nỗi nhớ ấy có cả hình bóng những người thân yêu đã khuất!

Ký ức tuổi thơ miền quê, ngoài đồng lúa, dòng sông, cánh diều…in đậm dấu ấn, còn có những món quà quê, bánh quê dân dã, mộc mạc gợi lên cảm xúc chân thành….

Nguyễn Kim

http://www.tiengiang.gov.vn

By Blog Saigontre.Wordpress.com Posted in Ẩm thực

Rượu dừa Bến Tre –hương vị thật khó quên

Phảng phất nhưng cũng đầy dư vị, rượu dừa đã lắm lúc làm người ta ngất ngây. Cái lạ của rượu cũng lắm lúc khiến những ai chưa từng thưởng thức qua thảng thốt: xứ dừa quả có những đặc sản lạ lùng!

Không ai có thể hình dung rõ ràng về loại rượu này nếu chỉ thoáng nghe tên gọi. Cái tên lạ lẫm đến cuốn hút. Rượu dừa thì tất phải liên quan đến dừa nhưng làm thế nào để người dân bản xứ có thể ấp ủ và cho ra đời loại rượu tinh tế như thế? Chẳng có gì gọi là bí quyết đối với những người làm ra nó. Tất cả chỉ đơn giản là sự hòa hợp của những nguyên liệu tự nhiên, trải qua quá trình chưng cất nhất định và tạo nên hương vị đặc trưng hiếm có.

Thêm một đặc sản từ dừa

Nếu nói về cái “thú say” thì ẩm thực Việt có bao điều thú vị. Từ những loại rượu của vùng núi ngàn lừng lẫy như rượu cần, rượu táo mèo, rượu ngô Nà Hang đến các loại rượu bình dân của xứ sở đồng bằng như nếp than, rượu gạo, tất cả đều khiến lắm kẻ ngất ngây. Ấy thế mà có một loại rượu chẳng thể làm người ta say, nếu có chăng thì chất men nồng của nó dễ làm người ta nhớ: nhớ về một vùng đất của ba dải cù lao, nhớ về những con người chất phát và bao đặc sản khó quên.

Cây dừa gắn bó máu thịt với người dân Đồng Khởi từ bao đời nhưng hình như rượu dừa mới được biết đến như một đặc sản của vùng chỉ vài năm trở lại đây. Câu chuyện cũng bắt đầu với những con người tâm huyết với cây dừa quê hương. Họ là những ông chủ của thương hiệu rượu dừa Bến Tre. Bỏ công mày mò với trái dừa xứ sở, bao sáng kiến nảy nở để rồi cuối cùng chắt lọc được thức ngon hiếm có. Đặc sản xứ dừa luôn có sức hút lạ: bình dị, ngọt ngào, chất phát và hiền hòa như người dân quanh năm gắn bó với mảnh đất này. Thế là nhắc đến đặc sản Bến Tre, nhiều người có thể hồn hậu thêm vào hai tiếng rượu dừa như một minh chứng cho sự ưu đãi của thiên nhiên đối với vùng đất này. Rượu dừa Bến Tre đã trở thành sản phẩm thương mại. Những “bình rượu” được “đúc” hoàn toàn từ trái dừa tươi được cho vào những túi lưới nhỏ, đi khắp mọi miền để quảng bá cho sản phẩm làm nên một nét đặc trưng xứ sở. Rượu dừa góp vào danh sách các loại rượu ba miền như một hương lạ. Không phiêu du như rượu cần, không cay nồng như Bàu Đá, không chan chát mặn ngọt như rượu táo mèo, rượu dừa có hương của đất, của người, của cây dừa quê đến độ đậm đà. Uống rượu dừa không phải để say men mà để say lòng, một cái gì đó phảng phất nhưng đầy dư vị.

Say rượu hay say lòng?

Rượu dừa chẳng thể làm ai say, có chăng sẽ khiến ai đó “ứ ừ”, tỉnh táo nhận ra thứ này làm họ say theo cách khác, cái cách quyến rũ của hương quê chứ không phải là chất men ủ thuần túy. Những ai đã từng thưởng thức rượu dừa, mới lần đầu sẽ có sự ngần ngại ngay đầu lưỡi vì rượu nhưng không hẳn là rượu, cay thâm thúy đó nhưng cũng ngọt ngào ngay đó. Uống mãi đến hết bình, cảm giác say chỉ mới ngà ngà, giống như cái cảm giác ngất ngây trước một sự mê hoặc khó cưỡng. Rượu có hương men, hương nếp và tất nhiên là hương dừa. Sự hòa quyện của những nguyên liệu nồng nàn cho ra một loại rượu đặc sản. Uống rượu dừa hẳn cũng như một cách giải khát, chỉ có điều thức uống này lạ lùng quá đỗi. Nghe qua về quy trình làm rượu, cũng thấy hẳn sự công phu. Trái dừa được chọn phải là dừa già, cơm dày, béo mỡ màng và thơm ngai ngái. Hình dáng bên ngoài của quả cũng quan trọng. Thông thường, những quả có đường kính quả từ 16 đến 18 cm, cân nặng từ 1,2 đến 1,4 kg (sau khi đã lột sạch vỏ) mới được chọn. Lớp sùi bên ngoài được mài nhẵn cho trơn láng để tạo độ bóng đẹp, ấn tượng như một bình rượu bầu. Nếp cái chọn loại căng tròn, hạt mẩy, trộn với men cổ truyền chuyên dùng cho rượu nếp. Sau đó, người ta khoét một lỗ nhỏ trên đầu quả dừa, tiêm hỗn hợp nếp cái, men vào theo một tỉ lệ nhất định, hàn kín và ủ từ 15 đến 20 ngày là có thể dùng được. Rượu có màu trắng ngà, vân vẩn đục với những chấm xác dừa lơ lửng. Rượu có vị ngọt mát với hương thơm đặc trưng của trái dừa bản xứ, vừa nồng nàn, vừa thanh tao, dịu nhẹ. Trong những ngày se se, dùng rượu dừa hâm nóng sẽ tốt và ấm hơn, ngược lại, những ngày oi nồng, một chút mát lạnh sẽ làm rượu càng thêm ngon. Nói là rượu nhưng đây không hẳn dành cho nam giới bởi người phụ nữ khi đã mê thì cũng dễ say với rượu dừa. Rượu làm cho nét chấm hồng trên khuôn mặt của người thiếu nữ thêm hao hao, làm nét duyên ngầm càng thêm quyến rũ. Một phương pháp sản xuất rượu đại trà hơn nữa là thông qua quá trình chưng cất từ nước dừa. Nước dừa được lọc, ủ men, sau đó được trưng lên như cách làm rượu nếp hay rượu gạo. Tuy nhiên, hương dừa sẽ giảm và rượu cũng không có được vị hòa quyện khi được ủ ngay trong lòng trái. Ngày nay, về Bến Tre, du khách dễ dàng tìm thấy những “mẻ” rượu dừa được bày bán dọc các tuyến đường. Đừng ngại ngần để thử vì hương vị thật rất khó quên.

Theo Dulichvietnam

Lá cách – Xa quê còn nhớ mãi

Trong các thứ rau dân dã, lá cách là loại rau được người dân miệt vườn ưa thích nhất, là món ăn khoái khẩu không thể thiếu trong bữa tiệc bánh xèo, cá lia thia kho lạt cuốn bánh tráng hay cuốn mắm sống ăn với khoai lang,…

Lá cách mọc nhiều ở ven sông, kênh rạch, nơi bãi bồi hoặc xen lẫn trong vườn cây, là loại thân mộc, có thể gieo trồng bằng hạt hoặc giâm bằng hom. Chúng phát triển rất nhanh, cây càng to, càng nhiều cành thì mới cho nhiều lá non, đó chính là những lá người ta dùng để ăn sống.

Cây cách gắn liền với cuộc sống của người dân Nam bộ với các món ăn được sáng tạo từ thời khai hoang, mở đất. Hồi còn ở quê, nội tôi thường dùng lá cách non xào với xác đậu nành, món ăn mộc mạc của những người nghèo thế mà ngon không chỗ nào chê, nó vừa no bụng vừa là món ăn bổ dưỡng. Để chế biến món ăn này, nội tôi nạo một trái dừa khô, vắt lấy nước cốt cho vào chảo đun sôi, sau đó tùy theo khẩu phần mà cho xác đậu nành và giá đậu vào, nêm nếm muối, bột ngọt cho vừa ăn, tiếp tục xào cho ráo nước, cuối cùng mới cho lá cách xắt nhuyễn vào xào sơ vài bận thì nhắc xuống dùng nóng với nước tương hoặc nước mắm ớt đều được. Xác đậu nành là thứ người ta bỏ đi sau khi xay lấy hết nước cốt, thường người ta đem cho heo ăn, nhưng đối với những người dân nghèo quê tôi lại là món ăn ngon vào những lúc sum họp gia đình khi biết khéo léo kết hợp nó với loại lá cách đặc trưng. Mùi thơm của lá cách, vị béo của xác đậu và nước cốt dừa cộng với chút nước tương cay cay tan trên lưỡi, ta ăn mà nghe ngây ngất hương quê.

Vào ngày Tết Đoan Ngọ, người dân quê thường hay đổ bánh xèo để cúng gia tiên và thết đãi con cháu. Chộn rộn nhất vẫn là tìm sao cho được rổ rau vườn với đủ thứ cải trời, cơm nguội, lá lụa, rau má, đọt sộp,… gì thì gì nhưng nếu thiếu lá cách coi như món bánh xèo giảm đi một phần ba sự hấp dẫn. Cao cấp hơn có món cá lia thia kho lạt, nếu cuốn bánh tráng mà rau sống đi kèm không có lá cách thì phần thi vị giảm đi mấy lần.

Theo tác giả Trọng Đức kể lại, trong lần về nói chuyện về âm nhạc cổ truyền Việt Nam ở Vĩnh Long, giáo sư Trần Văn Khê được các đồng chí lãnh đạo ở đây đãi món khoai lang cặp với mắm sống cuốn lá cách, khi ăn ông tấm tắc khen ngon và cho rằng: ‘Món ăn dân dã này hoàn toàn có thể nâng cấp lên để có tên trong các nhà hàng, quán ăn’.

Khoai lang mắm sống cuốn lá cách là món ăn đặc sản nổi tiếng của vùng sông nước Cửu Long. Khoai lang luộc xong bóc bỏ vỏ, cặp với một con mắm sống (thường là cá trèn, cá linh, cá sặt,…), rắc chút dừa nạo (loại dừa rám đã cứng vỏ nhưng chưa khô) cùng một nhúm rau cải các thứ và lá cách là có ngay miếng ngon khai vị trong bữa nhậu.

Ba tôi còn có món ‘độc chiêu’, thường bày ra nấu nướng khi có ‘chiến hữu’ rủ rê. Nhất là vào những buổi chiều đi cắt lúa về, ông xách theo một xâu chuột đồng, lật đật bảo tôi đun nước sôi để ông làm lông. Chừng nửa tiếng sau, những con chuột đen thủi đen thui kia trở nên trắng phếu. Ông chặt miếng, ướp tỏi, bột ngọt, đường, muối, ngũ vị hương,… để một chút cho thấm. Ông bảo tôi ra vườn bẻ một mớ lá cách đem vô lặt lá, xắt nhuyễn. Xong đâu đó, ba tôi bắc chảo lên bếp, cho mỡ, tỏi vào phi vàng, rồi cho thịt chuột đã ướp sẵn vào xào. Đến khi thấy thịt chuột gần chín, cho lá cách xắt nhuyễn vào trộn đều và nhắc xuống, rắc thêm mớ đậu phộng rang. Một mùi thơm lạ lùng xộc ngay vào sống mũi. Mọi người xúm nhau cụng ly, còn tôi thì bới tô cơm nguội, xúc mớ thịt chuột xào lá cách ra ngồi góc hè chén no nê.

Tôi là người kén ăn nhất nhà, nhưng từ khi phát hiện ra món thịt chuột xào lá cách ‘độc chiêu’ ấy, tôi bỗng ghiền. Bây giờ về sống ở thị trấn, đôi khi thèm thịt chuột xào lá cách quá chừng, nhưng chẳng biết tìm đâu ra lá cách để mà xào. Cũng lâu lắm rồi chưa được ăn lại món bò nướng lá cách. Trước đây ở nông thôn, trong tiệc cưới người ta thường đãi món bò nướng lá cách ăn với bánh hỏi. Mùi khói bốc lên khi nướng thịt, đứng cách xa cả cây số cũng nhận ra.

Cây cách dễ trồng nên hầu như nó có mặt ở khắp vùng nông thôn và hiện nay thì nó được xem như thứ rau đặc sản của vùng đồng bằng. Người ta bẻ những nhánh non đem ra chợ bán, có khi giá tăng vọt lên 10.000 đến 15.000 đồng/kg, nhưng không phải lúc nào cũng có. Những gì thuộc về của hiếm thì tự nhiên trở thành đặc sản và người ta rất quí trọng, cho nên trong việc khai thác họ cũng rất cẩn thận chăm chút, bẻ cành không dám bẻ sâu sợ cây chết. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm miệt vườn, hái lá cách phải bẻ luôn nhánh, bẻ càng sâu bao nhiêu thì chúng nẩy chồi nhiều bấy nhiêu, do đó sẽ cho ra nhiều đọt non hơn.

Mấy năm nay sống xa nhà, mỗi lần về quê tôi lại ùa ra vườn như trẻ con, thường là tìm hái mớ rau dân dã, tôi cũng không quên bẻ một ít nhánh lá cách đem về ăn sống. Gọi là lá cách, nhưng nó vẫn luôn luôn gần gũi với cuộc sống đời thường, mà bất cứ ai một lần xa quê cũng sẽ còn nhớ mãi.

Nhật Linh

http://www.tiengiang.gov.vn

By Blog Saigontre.Wordpress.com Posted in Ẩm thực

Plei Kần – dấu lặng trên cao nguyên

Mỗi khi có dịp ngồi bên nhau và nhớ về chuyến đi Tây nguyên đầy phiêu linh ấy, các bạn tôi thường giơ tay lên và bảo: “Ngón tay mình vẫn thơm mùi cà phê cao nguyên”…

Đường từ ngã ba Đông Dương về cửa khẩu Bờ Y – Ảnh: DUDI

Từ Hà Nội, Tây nguyên luôn là một giấc mơ xa vời, xa hơn cả những địa danh heo hút như Mù Căng Chải hay Đồng Văn, Mèo Vạc… ở miền rừng núi phía Bắc. Nhưng với một chút phiêu du tuổi trẻ, chúng tôi đã “gồng gánh” nhau lên đường. Sáu chiếc xe máy được gửi vào Đà Nẵng trước khi cả nhóm lên xe khách một ngày.

Plei Kần là nơi giao nhau của nhiều con lộ huyết mạch, gồm đường 14B căng ngang suốt từ Bắc vào Nam, tiếp tục đi về phía nam qua Đăk Tô, Tân Cảnh, Kon Tum. Từ cửa rừng quốc gia Chư Mom Ray – nơi khởi nguồn quốc lộ 14C huyền thoại, con đường mòn Hồ Chí Minh xuyên dãy Trường Sơn. Plei Kần cũng là nơi bắt đầu quốc lộ 40, con đường xuyên Đông Dương qua cửa khẩu Bờ Y sang Lào, Campuchia và Myanmar.

Thức dậy sau một đêm, Đà Nẵng đón chúng tôi với không khí trong lành của nắng, gió và biển xanh.

Đường từ Hòa Vang đi Thạnh Mỹ – Nam Giang thênh thang bát ngát, đẹp và không ngoắt ngoéo như đường đèo Tây Bắc. Chẳng mấy chốc các chiến mã đã bon bon trên đường Hồ Chí Minh lịch sử.

Dòng sông Cái âm thầm, lặng lẽ chạy bên trái đường, lúc ẩn mình dưới khe núi rậm rạp cỏ cây, lúc lồ lộ vẻ dữ dằn và cộc cằn bởi lô nhô đá cuội. Thỉnh thoảng gặp những ngọn thác tuôn chảy ào ạt tự nhiên bên đường, các bạn lại tranh thủ dừng chân chụp ảnh.

Sau bữa trưa ở Khâm Đức, trời lất phất mưa, rất may không phải là cơn mưa Tây nguyên ào ạt năm nào, hăm hở, rào rạt và bất ngờ tới mức khi chúng tôi mặc xong quần áo đi mưa thì trời… tạnh. Đường 14B xuyên Tây nguyên thẳng căng như kẻ chỉ, vắng vẻ, hãn hữu mới gặp vài chiếc xe tải ì ì leo dốc ngược chiều.

Qua đèo Lò Xo thì trời hửng nắng, nắng vàng rực trên những vạt rừng, lưng dãy núi Ngọc Linh, óng ả như mật khi chúng tôi chạy ngang Đăk Glei. Từ đây tới Plei Kần chỉ còn chưa đến 50km đường.

Plei Kần, thị trấn huyện Ngọc Hồi nằm ở phía bắc tỉnh Kon Tum, trên sườn đông dãy Trường Sơn, nổi tiếng với ngã ba Đông Dương, biên giới VN – Lào – Campuchia.

Không phải vô cớ mà dân phượt thường chọn Plei Kần là chốn dừng chân đầu tiên cho hành trình chinh phục Tây nguyên. Đơn giản, ai cũng muốn có cơ hội được in dấu chân lên một trong những điểm đến đặc biệt của Tổ quốc mình, một cách tự hào và hân hoan.

Ở Sài Gòn ngược ra, Bảo Thạnh đã đợi nhập đoàn với chúng tôi từ chiều. Thạnh lập tức nhận ra đoàn xe máy đồ đạc lỉnh kỉnh lao vun vút từ ngoài cửa ngõ Plei Kần, bỏ lại sau lưng những rừng cao su thẳng tắp miết mải. Lần đầu gặp nhau tay bắt mặt mừng.

Trong ráng chiều hối hả và những cuộn khói lam trên những mái nhà, chúng tôi nhằm hướng cửa khẩu Bờ Y mà chạy. 20km đường như chạy đua với mặt trời, những mảng màu nhá nhem khi xe dừng trước cửa khẩu Bờ Y, những tấm hình chụp vội vàng không nét vì thiếu sáng.

Nào có hề gì khi những kẻ phiêu linh đã vượt cả trăm kilômet đường chỉ để tin rằng mình đã tới và đã thấy, đã thật sự hít thở thứ không khí khoáng đạt của miền cao nguyên đất đỏ.

Trên cột mốc Đông Dương – Ảnh: DUDI

Đêm Plei Kần. Thị trấn trầm tư như một dấu lặng trên cao nguyên, những cánh rừng cao su bạt ngàn bao quanh rầm rì như hàng ngàn câu chuyện kể. Câu chuyện của quá khứ, của chiến tranh, của những người lính đã nằm xuống để gìn giữ mảnh đất này. Câu chuyện của những người dân đi làm kinh tế mới, những người đang làm cao nguyên hồi sinh với những cánh rừng phòng hộ, cao su, tiêu, cà phê…

Chúng tôi thả bộ dọc theo con lộ thẳng băng căng ngang lòng thị trấn, dưới ánh đèn vàng heo hút và trong tiếng gió miên man đang trườn qua những tàng cây, những mái nhà. Ấn tượng một đêm cao nguyên diệu vợi và phiêu bồng.

Buổi sớm trên cao nguyên “trời xanh mây trắng nắng tràn”. Tiếng những người dân xuống chợ xôn xao đánh thức ngày mới. Mặt trời đã lên, nắng tràn ngập những cánh rừng cao su quanh thị trấn, những vạt rừng đỏ đất lẫn giữa màu xanh điệp trùng, xa xa là dãy Trường Sơn trên đường biên giới phía tây.

Tất cả tản mát vào chợ tự ăn sáng, theo cách của người địa phương, bánh rán, bánh chưng, bánh chiên phồng hay phở, mì khô, tranh thủ tìm hiểu cuộc sống thường nhật của người dân. Thân thiện và giản dị, gần gũi và hồn nhiên, mộc mạc và không khách sáo. Chỉ một đám khách trẻ mà cả chợ thị trấn xôn xao, tiếng cười nói ồn ào khắp chốn.

Chúng tôi xách xe chạy vài vòng quanh thị trấn, qua những con dốc ngắn quanh co, “đi dăm phút lại về chốn cũ”, để tìm quán cà phê ngon nổi tiếng đất Plei Kần. Dường như những gì tinh túy nhất của cao nguyên được thu cả vào ly cà phê đậm đà và sóng sánh ấy.

Ai cũng ngẩn lòng xao xuyến và một câu nói thốt lên: Đây là ly cà phê ngon nhất mà tớ có cơ hội thưởng thức trong đời! Một ly cà phê thật sự của Tây nguyên…

BĂNG GIANG

Theo TTO

Cá lòng tong kho quẹt

Xưa, quê tôi lắm tôm cá. Hễ xuống sông tắm là bị cá rỉa rát cả chân. Mỗi khi nghỉ hè về quê, ngoài thú vui bơi lội, hái trái, bọn chúng tôi không thể nào quên thú câu cá trên sông. Đợi khi nước lên mấp mé chân cầu, bọn chúng tôi liền í ới gọi nhau xách cần đi câu, và cũng không quên phân công kẻ đi đào trùn bỏ vào vùa, người về nhà xúc cám bỏ vào bịch nylon mang theo. Lựa chỗ yên tịnh, vắng vẻ, chúng tôi ngồi xuống và rải cám xuống mặt nước để dẫn dụ cá tập trung. Thế là đủ loại cá nào là cá chốt, cá he, cá chài và nhiều nhất phải nói là cá lòng tong ngoi đầu nổi lên đớp mồi làm gợn sóng lăn tăn trên mặt nước. Chờ có thế, bọn chúng tôi thả cần câu xuống và tha hồ giựt cá lia lịa và thay mồi không kịp nghỉ tay! Nếu cần mẫn thao tác trong vài giờ, có thể thu được cả ký lô cá dễ như chơi!

Nhìn những chú cá lòng tong vảy trắng bạc, đuôi màu vàng nhạt nhảy xoi xói trong giỏ thật ngon lành làm sao! Cá mang về, chúng tôi gom lại đánh vảy, cắt đầu, moi ruột đổ ra rổ, và sau đó nhờ ngoại tôi kho quẹt giùm. Riêng bọn chúng tôi, bà sai vào nhà xúc gạo để nấu nồi cháo cho thật nhừ.

Ngày xưa món cá lòng tong kho quẹt ông tôi rất thích và bà bật mí bí quyết chế biến như sau: cá lòng tong làm sạch để ráo cho vào cái ơ đất nung, đổ nước mắm (phải là nước mắm rươi mới có màu sắc và hương vị đặc trưng) vào xăm xắp với cá, cho một ít đường tán thốt nốt vào cá (khẩu vị mặn, ngọt tuỳ từng người). Kế đó, đặt ơ lên bếp với ngọn lửa riu riu cho đến khi cá và nước mắm khô sắc lại, sau đó cho thêm ít tóp mỡ hoặc dầu ăn vào và nhắc xuống. Cuối cùng, cho một ít tiêu xay. Thế là món cá lòng tong kho quẹt đã xong. Cháo nóng đã múc ra chén. Mời bạn hãy tự nhiên húp một miếng cháo nóng cặp với một con cá lòng tong kho quẹt vào miệng, nhai chậm rãi để thưởng thức cái hương vị đạm bạc nhưng khó quên của miền quê.

Ngày nay, nước sông quê tôi bị ô nhiễm nên cá tôm còn rất ít. Vì thế, thú vui câu cá trên sông không còn nữa, nay chỉ còn là hoài niệm.

Nguồn: báo SGTT

By Blog Saigontre.Wordpress.com Posted in Ẩm thực

Ngày 7: Mỹ Tho  Tp.HCM: 65km

Ngày 7: Mỹ Tho  Tp.HCM: 65km

- Ngày cuối cùng, sau khi bị mắc mưa, sức khỏe đã “xuống cấp”, gối đã chùn, chân đã mỏi… về nhà thôi! Sáng 7 giờ đi bộ khoảng 700m đi về để ăn hủ tiếu Mỹ Tho, ăn xong về thu dọn đồ đạc chuẩn bị check-out.

- Dự định là sẽ đi quốc lộ 50 đến Gò Công rồi về qua ngã Cần Đước, Cần Giuộc… 80km tổng cộng, nhưng thấy ngán quá, đành chọn con đường quốc lộ 1A 65km để về. Về đến nhà là 10:30.

- Kết thúc chuyến đi tốt đẹp: đạt mục tiêu đi hết 13 tỉnh thành ĐBSCL, chi tiêu trong ngân sách cho phép (dự kiến cho phép chi tiêu tối đa 500.000 đồng/ngày, thực tế khoảng 350.000 đồng/ngày), không bị sự cố gì về xe và người, và đi được các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Hậu Giang – là những tỉnh trước giờ chưa từng đến.

- Đúc kết kinh nghiệm đi bụi bằng xe gắn máy:
o Đi xe của hãng có tên tuổi để tránh hư hỏng dọc đường. Xăng nhớt phải để ý, đừng để dắt bộ hay khô nhớt, cháy máy. Kính chiếu hậu đầy đủ. Nên có dây ràng đồ đạc mang theo. Nếu là nam giới tốt nhất nên trang bị ruột xe, ống bơm, bộ đồ nghề thay ruột. Nữ thì chí ít cũng phải mang theo 1 ruột xe đề phòng, và đừng đi sau 5 giờ chiều.
o Đồ đạc gọn nhẹ, nữ nhớ mang theo kem chống nắng vì vẫn có những kẽ hở khi đeo khẩu trang trên mặt. Mang theo một cây dao đa năng – sẽ rất hữu dụng. Nhớ mang thuốc, dầu gió, thuốc trị đường tiêu hóa đề phòng không hợp thức ăn hoặc thức ăn không sạch.
o Sách bản đồ đường bộ Việt Nam, và các bản đồ nội thị những nơi mình đến. Có thể mua ở nhà sách Tp.HCM.
o Cần hỏi giá trước khi ăn. Có thể trả giá ở khách sạn tư nhân.

Hết!

Ngày 6: Sóc Trăng  Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang)  Cần Thơ  Cái Vồn (huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)  Trà Ôn  huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh)  Cổ Chiên  Mỏ Cày (Bến Tre)  Thị xã Bến Tre  Mỹ Tho: 180km (bài 3)

- Vừa qua phà, chạy 8km là đến thị trấn Mỏ Cày, qua khỏi thị trấn chút thì trời mưa liên tục, vừa chạy vừa trú mưa, đi 7km nữa đến phà Hàm Luông nối liền Mỏ Cày với Thị xã Bến Tre, qua phà, đi 3km là vào thị xã Bến Tre. Thị xã Bến Tre cũng rất phát triển, với nhiều công trình mới, to tướng, công viên dọc bờ sông rộng rãi, quang cảnh đẹp.

Chợ Bến Tre

Chợ Bến Tre

Trung tâm Thương mại Bến Tre

Trung tâm Thương mại Bến Tre

Thị xã Bến Tre đi tiếp khoảng 10km là đến phà Rạch Miễu, cầu Rạch Miễu đã hợp long, nhưng chưa thông xe vào ngày 31/12/2008, chắc chỉ vài mươi ngày nữa là thông xe, giã từ phà Rạch Miễu. Qua phà là đến Thành phố Mỹ Tho, lúc này khoảng 2 giờ chiều, lại bị một cơn mưa, ướt khá nhiều, cố gắng chạy khoảng 1km dọc theo bờ sông, đến khách sạn Công Đoàn nghỉ lại một đêm, phòng 160.000 đồng/đêm, máy lạnh.

- Trời mưa lớn, ngủ một giấc đến gần 7 giờ tối, đi xe ôm đến đường Lê Đại Hành ăn hủ tiếu bò viên nổi tiếng ở đây, một tô 14.000 đồng. Về đi dạo công viên ven bờ sông. Đón giao thừa một mình tại Mỹ Tho.

Ngày 6: Sóc Trăng  Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang)  Cần Thơ  Cái Vồn (huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)  Trà Ôn  huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh)  Cổ Chiên  Mỏ Cày (Bến Tre)  Thị xã Bến Tre  Mỹ Tho: 180km (bài 2)

Trà Mẹt của Vĩnh Long

Trà Mẹt của Vĩnh Long

Đường đi từ Trà Mẹt ra QL53 xấu thế này đây

Đường đi từ Trà Mẹt ra QL53 xấu thế này đây

Xém nữa lộn đường, đổ ngược về TX Vĩnh Long, may nhờ bảng chỉ đường nên quay lại

Xém nữa lộn đường, đổ ngược về TX Vĩnh Long, may nhờ bảng chỉ đường nên quay lại

QL53 có thể rẽ sang QL60 đi phà Cổ Chiên hay đi thẳng vào TX Trà Vinh

QL53 có thể rẽ sang QL60 đi phà Cổ Chiên hay đi thẳng vào TX Trà Vinh

(mời bạn xem bài kế tiếp)

Ngày 6: Sóc Trăng  Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang)  Cần Thơ  Cái Vồn (huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)  Trà Ôn  huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh)  Cổ Chiên  Mỏ Cày (Bến Tre)  Thị xã Bến Tre  Mỹ Tho: 180km

Ngày 6: Sóc Trăng  Phụng Hiệp (tỉnh Hậu Giang)  Cần Thơ  Cái Vồn (huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long)  Trà Ôn  huyện Càng Long (tỉnh Trà Vinh)  Cổ Chiên  Mỏ Cày (Bến Tre)  Thị xã Bến Tre  Mỹ Tho: 180km

- Hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2008, đi qua năm cái phà, gồm phà Cần Thơ, phà Trà Ôn, phà Cổ Chiên, phà Hàm Luông, phà Rạch Miễu.

- Sáng 6:30 khởi hành, đi sớm thích hơn, vì sẽ đến sớm, nghỉ ngơi vào đúng lúc mệt mỏi nhất trong ngày, là khoảng 1 đến 3 giờ chiều, và không khí sớm mai thật trong lành, mát lạnh. Từ Tp. Sóc Trăng đi theo quốc lộ 1A 30 km là đến Phụng Hiệp, thị trấn Ngã Bảy, nơi có chợ nổi Phụng Hiệp.

Thị trấn Ngã Bảy, cách chợ nổi Cái Răng vài km

Thị trấn Ngã Bảy, cách chợ nổi Cái Răng vài km

Đi tiếp 30km nữa sẽ đến Cần Thơ, quận Cái Răng. Đi tiếp sẽ là quận Ninh Kiều – trung tâm như quận 1 của Tp.HCM, đi thẳng tiếp nữa sẽ là phà Cần Thơ để qua tỉnh Vĩnh Long.

Thế giới di động đã có ở Cần Thơ

Thế giới di động đã có ở Cần Thơ

Qua phà đi chừng 1-2km thì thấy bên phải có con đường nhựa, đó chính là quốc lộ 54 đi Trà Ôn 16km. Đến Trà Ôn, phải qua phà Trà Ôn, đi thêm 17km theo quốc lộ 54 đến Trà Mẹt.

Bến phà Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long

Bến phà Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long

Tại Trà Mẹt, nếu rẽ phải sẽ đi Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh (8km), tại Cầu Kè có đặc sản dừa sáp, tôi đã khá mệt và lộ trình hôm nay cũng gần 200km nên không muốn đi thêm, nên rẽ trái đi chút xíu tới ngã ba rẽ phải đi tỉnh lộ 911 25km sẽ đâm ra quốc lộ 53 là đường từ Thị xã Vĩnh Long đi Vũng Liêm xuống Thị xã Trà Vinh. Đã từng ở Thị xã Trà Vinh ba ngày đêm liên tục nên lần này tôi không ghé Thị xã Trà Vinh nữa, mà đi quốc lộ 60 đến phà Cổ Chiên để về Bến Tre. Từ tỉnh lộ 911 đến giao với quốc lộ 53, rẽ phải, đi thêm dăm km, đến cái chợ, có biển báo, rẽ trái đi quốc lộ 60 chừng 15km là đến phà Cổ Chiên. Qua phà là đến huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.

(mời bạn xem tiếp bài sau)

Ngày 5: Tp. Cà Mau  Hộ Phòng  Giá Rai  Bạc Liêu  Nhà Mát  Sóc Trăng: 130km (bài 6)

Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho... đều có con sông chạy ngang TX/TP

Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho... đều có con sông chạy ngang TX/TP

Phố xá Tp. Sóc Trăng

Phố xá Tp. Sóc Trăng

Ly chè hột gà trà lạnh ở Tp. Sóc Trăng (ăn nóng ngon hơn)

Ly chè hột gà trà lạnh ở Tp. Sóc Trăng (ăn nóng ngon hơn)

Mời bạn xem tiếp bài sau về hành trình ngày thứ 6 từ Sóc Trăng về Mỹ Tho.