Chữa bệnh bằng nước lã (đun sôi, để nguội)

I-CÁC THỨ BỆNH ĐƯỢC TRỊ LIỆU BẰNG NUỚC LÃ MỘT CÁCH CÔNG HIỆU:
(Nước nấu chín để nguội)

1. Bệnh nội thương: Nhức đầu, huyết áp cao, thiếu máu, sưng khớp xương, phong thấp, mắt tê liệt, béo mập, hồi hộp, mệt mỏi, ho suyển, sưng cuống phổi, ho lao, đau màng óc. Đau gan, thận, dạ dầy, kiết lỵ, lở loét trong ruột, xệ ruột già, táo bón, trĩ, tiểu đường.
2. Bệnh về mắt: Bệnh chảy máu nước mắt, suy nhược về mắt
3. Bệnh phụ nữ: huyết trắng, ung thư tử cung, ung thư vú
4. Bệnh tai, mũi, họng: Mủ lỗ tai, làm độc ở mũi, ở họng

II-CĂN BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP:

Phương pháp trị bệnh bằng nước lã xem ra kỳ lạ không thể tin được, nhưng phải nói rằng đây là một phương pháp có căn bản vững chắc đem lại nhiều kết quả hiển nhiên và hiện nay được nhiều nơi ứng dụng để chữa bệnh nhân. Một bằng chứng là từ ngày phương pháp nầy được trình bày đến nay nghĩa là trong bảy năm qua chưa ai tìm ra được dữ kiện nào chống lại. Căn bản của phương pháp nầy là uống một số lượng nước vừa đủ giúp ruột giải tống khứ ra ngoài các chất cặn bã và hoạt động được dễ dàng, nhờ thế ruột già sẽ giúp tạo ra huyết cầu mới.

III-CÁCH THỨC TRỊ BỆNH:

Buổi sáng thức dậy uống nước lã độ 5 xị (phải uống một lúc). Nhớ là trước khi đi ngủ đừng ăn thứ gì, không nên súc miệng khi thức dậy.

IV-NHỮNG ĐIỀU NÊN BIẾT:

1. Lúc đầu khó uống một lúc 5 xị nước, nhưng đừng thất vọng, nếu không uống được hãy ngừng một hơi, thì hãy đi tản bộ hoặc chạy một lúc rồi hãy trở lại uống thì thế nào cũng tiêu thụ được hết số lượng cần thiết.
2. Theo kinh nghiệm thì mấy lần đầu ít uống ngay được 5 xị nước, nhưng cố gắng mỗi ngày để đạt được số lượng nước cần thiết. Hãy chắc chắn điều nầy là nước chúng ta uống vào nhiều hay ít bao giờ cũng đem lại kết quả tốt.
3. Điều quan trọng là khi uống nước rồi thì vừa lấy tay xoa bụng, vừa chạy hơi chầm chậm tại chỗ độ 20 phút.
4. Những bệnh nhân không chạy được mà dùng phương pháp trị bệnh nầy thì sau khi uống nước hãy nằm ngữa trên giường thở thật dài và lấy tay xoa bụng như thế nước sẽ vào được các nếp gấp của ruột già
5. Sau khi uống 5 xị nước, có người sẽ đi tiểu như thông khoang, có người đi tiểu 3 đến 4 lần trong một giờ, nhưng chỉ 3 hay 4 ngày sau, các phiền hà nầy sẽ hết và sau một tuần sẽ còn đi tiểu một lần.

V. KẾT QUẢ:

Bạn sẽ thấy dễ chịu, ăn rất ngon, còn thời gian điều trị lâu hay mau tuỳ từng bệnh, kinh ngiệm cho ta thấy:
- Dạ dày phải chữa trị một tuần lễ
- Huyết áp cao 1 tháng
- Xệ ruột già 3 tháng
- Tiểu đường trị một tuần (?)
- Ung thư ba tháng
- Đau tim 10 ngày
- Phổi, ho lao trị 3 tháng.

Những người trị đau khớp hay phong thấp thì phải chữa trị bằng phương pháp nầy 3 lần trong một ngày và chỉ một tuần sẽ khỏi hẳn. Nhưng điều cần thiết là dùng phương pháp nầy 2 giờ sau bữa ăn.

VI. KẾT LUẬN:

Đây là phương pháp trị bệnh mới lạ mà không mất tiền, chỉ cần mỗi sáng thức dậy bỏ ra độ 20 phút để thi hành thì chắc chắn có kết quả. Chúng ta kiệt sức, chúng ta đau yếu và rồi chúng ta cứ chạy chữa mãi mà vẫn không khỏi bệnh. Ruột già của người lớn dài độ khoảng 1,5 m và có thể hấp thụ được các chất bổ dưỡng nuôi cơ thể. Nếu ruột già được rửa sạch thì các thực phẩm ăn hàng ngày mới được các nếp gấp trong ruột già hấp thụ hoàn toàn để biến thành máu mới và tươi, các thứ máu nầy được coi là năng lực chính để chữa bệnh.

Chúng ta biết là trong máu có tới 90% nước, vậy càng uống nhiều nước lã càng tốt Nói tóm lại, nước lã làm cho cơ thể chúng ta khoẻ mạnh và kéo dài thêm cuộc sống (Khám phá của một BS Nhật(JAPAN) đã được hội đồng y khoa Nhật công nhận vào năm 1978).

Tài liệu sưu tầm.

Du lịch Buôn Mê Thuộc

Đến với Buôn Mê Thuộc, bạn sẽ được khám phá nét văn hóa, thiên nhiên Tây Nguyên. Bạn sẽ được cơ hội cưỡi voi, đi thuyền độc mộc, tận hưởng màn đêm bên hồ Lak… Rất nhiều công ty du lịch có Tour đi Buôn Mê Thuộc 3 ngày 2 đêm.
Tớ đã đi tour Ban Mê Thuộc vào Tết 2003 với mấy người bạn. Một số hình cho bạn tham khảo:

Cưỡi voi - voi đi lắc lư, ngồi không có dây an toàn, chỉ sợ rớt xuống đất

Cưỡi voi - voi đi lắc lư, ngồi không có dây an toàn, chỉ sợ rớt xuống đất


Voi cao hơn người

Voi cao hơn người


Tp. Buôn Ma Thuộc - Tết năm 2003

Tp. Buôn Ma Thuộc - Tết năm 2003


Điệu múa Ê Đê

Điệu múa Ê Đê

Hình… quá đẹp :)

Chụp ở Hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt năm 2003

Chụp ở Hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt năm 2003


Hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt

Hồ Tuyền Lâm - Đà Lạt


Anh em nhà cún

Anh em nhà cún

Tướng ngủ kỳ lạ của mèo

“Bác” mèo nhà tớ có những biểu hiện… không giống mèo (chẳng biết bác có lai… chó không nữa). Có nhiều biểu hiện trong đó một biểu hiện tiêu biểu là kiểu ngủ. Ngày xưa đến giờ ai cũng biết “con mèo cuộn tròn bên bếp lửa ấm”, còn bác mèo nhà tớ thì đây:

Nằm nửa nghiêng nửa ngửa, tứ chi co quắp

Nằm nửa nghiêng nửa ngửa, tứ chi co quắp


Ngửa hơn tí nữa nhé, khoe bụng nhé, nhưng phải lấy đuôi che cái chỗ... ấy lại!

Ngửa hơn tí nữa nhé, khoe bụng nhé, nhưng phải lấy đuôi che cái chỗ... ấy lại!


Mùa đông nằm dài trong chăn - nằm dài chứ không cuộn tròn đâu nhé

Mùa đông nằm dài trong chăn - nằm dài chứ không cuộn tròn đâu nhé

Món ăn chơi: Gỏi khô bò + Phá lấu lòng bò

KHÓ QUÊN GỎI KHÔ BÒ

Trong những món ăn vặt, ăn chơi ở đất Sài Gòn phải kể đến gỏi đu đủ khô bò. Thời hội nhập, món ăn dân dã được tìm tòi phục vụ cho du lịch và gỏi khô bò đã nghiễm nhiên có mặt ở bàn tiệc của các nhà hàng, khách sạn có sao. Nhưng đi ăn gỏi khô bò ở quán cóc vỉa hè hình như người ta vẫn thấy ngon hơn, đúng điệu ăn vặt hơn.

Hàng bán gỏi khô bò được nhiều người biết tiếng trên đường Hai Bà Trưng đối diện là công viên Lê Văn Tám. Có lẽ nhờ ở trên trục giao thông đông đúc và dân ăn vặt có chỗ ngồi bên lề công viên mát mẻ vừa nhâm nhi dĩa gỏi vừa tán dóc ngắm nhìn dòng người nguợc xuôi. Trên đường Nguyễn Văn Thủ còn có xe gỏi khô bò của ông Năm, bán từ năm 1970 ở tiệm nước mía Viễn Đông đường Pasteur, sau năm 1975 ông dời về đây.

Đu đủ thường được ngâm qua nước muối có đá để khử mùi mủ và giúp sợi gỏi giòn hơn. Lẫn trong màu xanh phơn phớt của những sợi đu đủ bào, điểm dăm ba cọng ửng vàng trong đám rối đu đủ trở nên duyên lạ. Thêm miếng thịt, gan, phổi, lá mía bò được khìa thành thứ khô có màu nâu cánh gián cùng vài cọng rau quế, rau răm và không thể thiếu những hạt đậu phộng vàng giòn rụm, dĩa gỏi trông càng bắt mắt…

Gỏi đu đủ khô bò hơn thua nhau ở nước trộn gỏi, hương vị nước trộn mỗi nơi đều có bí quyết riêng. Ông Năm thì pha giấm, nước tương và nước xốt ớt theo kiểu cũ, từng thứ được xịt vào dĩa gỏi theo thứ tự lớp lang. Phối nước gỏi theo cách này hơi chậm nhưng bù lại theo sát gu ăn của khách ưa chua nhiều, thích mặn một chút hay thật cay để vừa ăn vừa hít hà.

ĂN PHÁ LẤU LÒNG BÒ

Phá lấu, một món ăn có sức cuốn hút đến kỳ lạ không chỉ đối với học trò nhỏ mà cả giới sinh viên, bằng chứng là trước cổng trường, từ tiểu học cho đến đại học, cũng có một chiếc xe bán phá lấu. Đúng gu của dân ăn vặt phải là phá lấu lòng bò.

Ngoài những xe phá lấu bán trước cổng trường, những hàng quán bán phá lấu được biết tiếng ở Sài Gòn lại không nhiều. Điểm qua thấy có khu đường Hoàng Sa, dưới chân cầu Thị Nghè, quận 1 có ba xe bán. Thêm một quán phá lấu quận 4 trên đường Tôn Đản và một quán ở quận 5 trên đường Phan Văn Trị gần cổng trường Ba Đình.

Món phá lấu lòng bò xuất hiện trên dưới chục năm trở lại đây, không biết có phải ban đầu người ta làm phá lấu bằng lòng bò vì nó rẻ, dễ bán cho học trò ít tiền. Cho đến bây giờ phá lấu lòng bò đã trở thành món ăn có gu riêng không thể thay thế được. Bà Ngọc, chủ xe phá lấu cùng tên ở khu Hoàng Sa đã bán món ăn này mười năm qua cho biết. Hồi xưa lòng bò rẻ chưa đến một phần ba giá lòng heo, ít người cạnh tranh. Hiện nay giá lòng bò đâu thua gì lòng heo, thậm chí phổi bò còn đắt gấp rưỡi phổi heo, còn lá sách thì đã trở thành đặc sản của lẩu bò nên không ai dám làm phá lấu vì quá đắt. Làm phá lấu phải chọn phèo, tổ ong, trái khế, lá mía, thịt dày… và phải là “hàng nóng”. Chờ bò mới ra thịt từ hai giờ sáng, lấy lòng về làm ngay thì phá lấu mới ngon và kịp mềm. Còn hàng đông lạnh thì rẻ nhưng không thể nào có món phá lấu ngon được.

Chén phá lấu khìa với nước cốt dừa màu nâu cánh gián nóng hổi, được bưng ra bàn. Mùi nước dừa, mùi thịt thơm lạ lùng, ăn phá lấu chỉ cần một cây xiên tre cỏn con là đủ. Xiên miếng tổ ong đang ngập trong nước phá lấu bốc khói, chấm vào chén nước me chua cay. Miếng lòng giòn sừn sựt nhai thiệt đã, chấm thêm miếng bánh mì, vị béo đậm của nước phá lấu thấm bánh mì như tiếp sức cho miếng lòng càng thấm thía. Chén phá lấu 7.000đ ăn còn thiếu, thêm ổ bánh mì 2.000đ là vừa lửng bụng.

(Theo Công An)

Vịt quay Bắc Kinh

Vịt quay Bắc Kinh
Bắc Kinh nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh, những giá trị văn hóa lịch sử lâu đời. Bên cạnh đó, Bắc Kinh còn có rất nhiều những món ăn ngon đặc trưng cho nền ẩm thực tinh túy Trung Hoa.
Món ăn của người Bắc Kinh là sự kết hợp giữa món Quảng Đông với món ăn của các hoàng đế xưa. Các món này có rất nhiều thịt và cách nấu phổ biến là chiên, quay, luộc và hầm.

Vịt quay Bắc Kinh

Vịt quay Bắc Kinh

Hai món ăn phổ biến nhất Bắc Kinh là vịt quay và lẩu cừu.

Vịt quay Bắc Kinh
Món ăn nổi tiếng này được coi là món “đệ nhất thiên hạ”. Vịt quay Bắc Kinh có từ thời nhà Minh, tức khoảng 600 năm trước đây. Khi ấy, nó chỉ có mặt trong các bữa ăn hoàng gia.

Sau cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911, nhà Thanh sụp đổ. Các đầu bếp của Tử Cấm Thành đã rời khỏi cung điện, sau đó họ mở nhiều nhà hàng quanh Bắc Kinh và bán món vịt quay. Món ăn cung đình này dần trở thành quen thuộc với người dân nơi đây.

Món vịt quay chế biến đúng cách phải có độ giòn. Trước khi quay, vịt được trộn với đường, xì dầu để sau khi quay xong, vịt có lớp da giòn, màu vàng ruộm, thịt mềm.

Vịt quay được dùng kèm với hành, tỏi tây, dưa leo, củ cải kẹp trong bánh bột mì. Một số nhà hàng còn phục vụ riêng từng bộ phận của món vịt quay như chân, cổ, gan…

Lẩu cừu
Một món ăn đặc trưng khác của người Bắc Kinh là lẩu cừu, thường được dùng trong những ngày đông lạnh giá. Trong lễ hội chào đón năm mới, món ăn này có mặt tại hầu hết các gia đình Bắc Kinh.

Cách nấu lẩu cừu rất đơn giản: Thịt cừu được cắt thành những miếng nhỏ, sau đó cho vào nồi nấu. Món này ăn chung với đồ hải sản, rau, đặc biệt là luôn có nước sốt đậu đi kèm.

Khánh Nhật (Theo Shanghai Finance)

Sushi – từ truyền thống đến hiện đại

sushi

sushi


Sushi là một món ăn nổi tiếng của châu Á. Với bề dày lịch sử hơn 1.000 năm, Sushi đã khiến thực khách trên thế giới phải ngưỡng mộ. Hầu hết mọi người khi nghe đến món “Sushi” đều nghĩ món ăn này có cá sống. Thật ra, món Sushi ban đầu được làm từ cơm, có thể có hoặc không có cá sống và cua hoặc tôm.

Ngày nay, Sushi được phục vụ nhiều nhất ở các nhà hàng Nhật Bản nên nhiều người nghĩ món này bắt nguồn từ đất nước mặt trời mọc. Tuy nhiên, Sushi đã có mặt ở Trung Quốc từ thế kỷ thứ 7. Cùng với cách bảo quản cá, người Trung Quốc đã nghĩ ra cách chế biến món Sushi với phương pháp lên men tự nhiên.

Trước đây, Sushi được làm bằng cách ép chặt cá vào cơm và muối, kết hợp với dấm chua ngọt để lên men tự nhiên trong vài tháng. Sau thời gian lên men, người ta bỏ cơm đi và chỉ ăn cá muối không. Cách thức này gọi là narezushi hay edomaezush, hiện vẫn được dùng trong một số nhà hàng, mặc dù rất khó tìm.

Khi lan truyền sang Nhật Bản, món ăn này trở lên nổi tiếng. Với sự sáng tạo của mình, người Nhật đã chế biến là món sushi của riêng mình và đặc trưng cho văn hóa Nhật Bản gọi là haya-sushi bao gồm cơm, cá, và các loại rau được trộn chung với nhau mà không phải qua cách chế biến lên men tự nhiên theo kiểu cổ truyền của Trung Quốc.

Bên cạnh đó, họ làm cho món ăn trở nên phong phú với nhiều loại Sushi khác nhau. Ở nhiều thành phố, bạn có thể tìm thấy nhiều loại Sushi, có loại thậm chí được bán như một món ăn nhanh ở các cửa hàng, rạp hát, sân bay…

Dễ chế biến nên từ thế kỷ 19, Sushi trở thành món ăn chủ yếu của các gia đình Nhật, góp phần giải quyết sự bận rộn trong cuộc sống của họ. Ngày nay, Sushi xuất hiện với rất nhiều dạng như để trong bát, cuốn tay, cuộn tre hoặc nắm bằng tay…; dùng chung với nhiều loại cá, hải sản tươi sống và trở nên nổi tiếng khắp thế giới.

Sushi, tốt cho sức khỏe vì nó chứa ít chất béo, nhiều chất bổ dưỡng (một phần thức ăn Sushi chứa 8 đến 10 miếng, với khoảng 350-400 calories). Sushi cũng chứa nhiều protein và Omega 3; giàu I-ốt và hyđrat carbon nhờ sự có mặt của lá rong biển.

Nếu chưa từng ăn Sushi, bạn nên thử một lần…

Tuệ Quân (Theo Asianartmall)

Món ăn từ gân

Nhắc đến gân, nhiều người lại nhớ đến điển tích “kê cân” (gân gà) thời Tam quốc ở Trung Hoa. Trong trận chiến ở ải Tà Cốc, Tào Tháo đánh trận mãi không thắng, đánh tiếp thì chẳng biết bao giờ xong nhưng rút về lại ngại quân sĩ chê cười, đâm ra tiến thoái lưỡng nan.
Một tối, viên tướng gác đêm bước vào xin mật khẩu đúng vào lúc Tào Tháo đang trầm ngâm với chiếc chân gà, Tào đã buột miệng nói “kê cân, kê cân”. Quan chủ bộ Dương Tu nghe thuật lại liền hiểu ý Tào muốn thu quân, bởi gân gà bỏ đi thì tiếc nhưng ăn lại dai nhách…

Món dưỡng sinh thời hiện đại
Có thể xem đó là một điển tích thú vị về sợi gân dai, tưởng như chẳng có gì để ăn. Tuy nhiên, nói vậy thì hơi oan cho sợi gân, bởi nếu biết cách chế biến, gân có thể trở thành món ăn hấp dẫn. Từ xưa, những bậc quý tộc, vua quan đã nhìn thấy cái độc đáo và ngon lành của gân mà xếp chúng vào hàng kỳ trân (món ăn lạ), riêng gân nai được liệt vào danh sách tám món ăn quý (bát trân).

Ngày nay, gân là sự lựa chọn cho những người ngán thịt, cá để thay đổi khẩu vị. Gân có vị ngọt, tính bình, không độc, chứa nhiều chất bổ dưỡng cao, giúp hồi phục sinh lực và cường gân cốt. Những người bệnh về gân xương thường được khuyên dùng món gân động vật đôi lần một tuần.

Gân phơi khô được bày bán khá phổ biến, nhưng ngon nhất vẫn là dùng gân tươi. Do ảnh hưởng của văn hóa ẩm thực Trung Hoa, gân được biết đến trước hết qua các món tiềm thuốc bắc. Hương nồng, ấm đặc biệt của thuốc là chất thơm độc đáo để tẩy mùi gân hiệu quả, cũng là để cân bằng âm dương cho món ăn. Dần dà, cách tẩy mùi bằng thuốc bắc được các đầu bếp vận dụng linh hoạt hơn, như một cách sơ chế cần thiết.

Nếu dùng gân sống, người nấu thường phải hầm gân một thời gian với muối, gừng và chanh để tẩy mùi, sau đó nấu với dược thảo hoặc thuốc bắc khoảng một, hai giờ cho mềm và mất hẳn mùi, rửa sạch bằng nước lạnh rồi mới chế biến thành món ăn. Nếu là gân khô, phải mất thời gian ngâm nước tro để gân nở ra, mềm hơn. Một cách chế biến khác thường áp dụng cho gân khô (đặc biệt là gân nai) là nướng hoặc rang trên muối cho đến khi vừa cong lại thì lấy cho ngay vào nước nóng, ngâm đến hơn năm giờ để gân mềm mại mà vẫn giòn dai.

Đa dạng sợi gân

Trước tiên phải nhắc đến món kê cân của Tào Tháo. Gân gà ngon được lấy từ những con gà trống tơ to khỏe, có đôi chân chắc nịch. Trước đây, những người sành ăn còn nghĩ cách lọc gân bằng cách thả chó rượt gà trong một khoảng sân hẹp, đến khi chú gà gục ngã thì bắt lấy, rạch lớp da chân cắt lấy những sợi gân căng mọng đạt đến độ to và dai nhất (được xem là tích tụ hết sinh lực của gà) để chế biến những món cao lương mỹ vị.

Theo bếp trưởng Nhà hàng Trâm (37 Nguyễn Trãi, Q.1), gân gà có thể được chế biến theo hai cách. Cách đầu là lọc lấy phần gân tươi, ướp với gia vị thật lâu rồi chiên trong chảo ngập dầu để miếng gân giòn rụm, thấm đều gia vị. Cách khác là hấp chân gà trước khi tách lấy phần gân, ướp gia vị và nướng vàng. Gân gà lúc này dậy hương thơm, dẻo và trong, vàng óng bắt mắt, làm món nhắm đầu tiệc rất thú vị.

Gân nai thon và tròn hơn gân bò, dài khoảng 20-25cm, to bằng ngón tay út, được xem là nguyên liệu thuộc bát trân xưa, ngâm rượu uống cũng tốt mà chế biến tươi lại càng quý vì có độ dẻo và giòn hàng đầu trong các loại gân. Để lấy được gân nai, người ta thui đùi nai trên lửa, làm sạch lông rồi cho vào nước luộc mềm. Kế đến, dùng dao nhọn xẻ tách gân ra khỏi phần bắp thịt, chiêu trong nước muối và giấm cho đến khi gân mềm và trong veo.

Trong các nhà hàng lớn, gân nai thường được kết hợp với yến sào, hải sâm hoặc vi cá để cho ra món xúp rất bổ dưỡng và đắt tiền. Gân nai cũng được bán nhiều tại các hiệu Đông y, nhưng phần nhiều là gân heo giả nai, vì nai đã được xếp vào động vật hoang dã cần được bảo tồn, dễ gì có được sợi gân thứ thiệt?

Dùng gân heo cũng tốt, nhưng độ giòn dai thì không bằng, lại dễ bở nếu chế biến không đúng cách. Thông thường, gân heo thường được lấy ở giò sau vì gân giò trước ngắn, khó lấy. Vì thịt heo sẵn nên gân heo thường được phơi khô, cất để dùng dần. Trước khi chế biến, gân heo đem rang vàng hoặc nướng lửa than cho thun lại rồi tiềm chung với thuốc bắc.

Ngoài ra, gân có thể được ngâm nước qua đêm cho mềm rồi hầm cùng trái lê, cho nước dùng vừa ngọt, vừa trong. Phần gân chín có thể đem xào, nấu xúp hoặc làm gỏi, chiên vàng đều được. Gân heo tiềm thuốc bắc cũng là món ăn hồi sức cho người suy nhược, yếu phổi hay đau nhức gân xương.

Gân bò – ứng dụng cao
Hoàng ngưu cân là gân của bò. Loại tốt nhất là gân bò đôi (gân tứ trụ), tức là phần gân ở bốn chân. Trong các loại gân, gân bò khó chế biến nhất vì có mùi hôi đặc trưng. Đây là loại nguyên liệu tạo cho bún, phở… thêm chút giòn dai, lạ miệng. Gân bò còn trộn gỏi với dưa leo, cần tây, cà rốt, rau thơm, cho hương vị chua chua, cay cay hoặc có thể kết hợp với một chút vị Âu của xốt mayonnaise và ngũ vị (ngò rí, hành lá, gừng, tỏi, ớt) để cho ra món salad lạnh.

Gân bò tươi chần nhanh qua nước sôi, xả nước lạnh, để ráo rồi trộn với gừng, tỏi, ớt… cho vào hũ sành, sau đó đổ ngập mặt bằng nước mắm pha đường, nấu lửa liu riu, đậy kín và cất trong ba ngày là có món gân bò ngâm, ăn với cơm trắng rất ngon, hoặc khi buồn miệng có thể gắp ra cuốn bánh tráng rau sống mà nhâm nhi cũng rất thú vị. Gân hầm với hạt dẻ cho món ăn bùi bùi, thơm thơm.

Độc đáo nhất có lẽ là món lẩu có đầy đủ các phần “giòn giòn” trong cơ thể bò, mới xuất hiện tại Nhà hàng Kim Ngưu (12 Nguyễn Thông, Q.3). Nguyên liệu cho món lẩu này gồm dây chằng (là tám phần dây gân nối giữa các khớp xương, dài chưa đầy 10cm, tròn, trong veo và độ dai thuộc hàng bậc nhất), mép bò (chỉ sử dụng lớp mép trong), gân trong hầm vừa chín tới, cắn nghe sừn sựt.

Phần thịt duy nhất được sử dụng trong lẩu là bắp hoa (bắp thịt nằm ở mông bò chứ không phải phần đùi, chỉ có khoảng 100-200g), cắt ra đỏ tươi, đẹp như hoa. Cái khó của lẩu là nấu để các nguyên liệu vừa đủ độ mềm nhưng vẫn không bở và dậy hương thơm, bằng cách ngâm khử mùi khoảng hai giờ, sau đó hầm thêm vài ba giờ để gân trong, mềm và mất hẳn mùi tanh.

Nước dùng lẩu được nấu từ sâm, linh chi và vài phụ gia từ thuốc bắc, được cân bằng để mùi thơm mà không quá nồng, ăn cùng với đọt cải và các loại nấm trắng (nấm đùi gà, linh chi trắng, bào ngư, nấm tuyết, kim châm…) để nấm không át mùi sâm mà nước vẫn ngọt. Có lẽ nhờ vậy mà món lẩu thực dưỡng này không cần thịt thà mà vẫn ngon và bổ dưỡng như thường!

Theo Hiển Danh
(Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần)