3 CHỮ VÔ

Đọc sách về Đạo, tôi tin và thích 03 chữ Vô sau:

  1. Vô thường: Phật dạy vạn vật vô thường, có nghĩa là liên tục thay đổi, không bao giờ đứng yên. Cho nên, cái ta đang có, dù tốt, dù xấu, dù muốn, dù không, đều sẽ mất đi. Biết thế thì cứ vô tư mà sống, trân trọng những cái ta đang có, để đến khi nó mất đi thì ta cũng không tiếc nuối, vì nếu có tiếc nuối, khóc than, buồn bã thì cũng phải chấp nhận chân lý và sự thật này mà thôi.
  2. Vô ngã: Không có vật thể nào trên thế gian này có thể tự nó sinh tồn và phát triển mà không cần nhân duyên hòa hợp. Nôm na là không có cái ta. Vứt bỏ cái tôi của mình đi, cũng như quan niệm “cái của tôi”. Chẳng có gì là của ta, của tôi cả, vì ta không thể đảm bảo hay kiểm soát nó. Nó có thể không còn là của ta bất kỳ lúc nào. Chỉ có 1 thứ của ta mà ta có thể kiểm soát nó 100%: đó là thái độ của ta, hay rộng hơn là “tâm” của ta. Đó là cách ta nghĩ, cách ta cảm nhận, cách ta đáp lại sự việc. Thế bạn muốn “tài sản duy nhất” của bạn sẽ là cái đẹp, tích cực, tỏa sáng… hay là cái tiêu cực, xấu xí, nặng trịch mà bạn phải mang theo mọi lúc mọi nơi?
  3. Vô vi: làm gì cũng cứ thuận theo quy luật tự nhiên thì ắt sẽ thuận lợi, cái này là theo thuyết của Đạo Lão (Lão Tử).

Hiểu biết của tôi là như thế, tôi muốn đưa mọi thứ về đơn giản nhất, gọn nhất, để dễ hiểu, dễ tin, dễ thực hiện, dễ đi vào “máu thịt” của mình.

Nếu tôi có chỗ chưa đúng, mong được chỉ giáo!

GIẢI THOÁT & TRÓI BUỘC

Có một đệ tử quyết tâm học đạo với một vị đạo sư. Sau một thời gian dài thọ giáo, vị đại sư vì có việc phải đi xa nên căn dặn người đệ tử tiếp tục tinh tấn tu hành. Người học trò nghe lời thầy dặn công phu sớm tối không bê trễ. Vì nếp sống thanh bần người đệ tử chỉ có duy nhất một chiếc áo cà sa mà cứ bị chuột cắn rách hoài nên lại phải đi xin mảnh vải khác để vá vào. Phật tử thấy vậy bèn cúng dường cho tu sĩ một con mèo để trừ lũ chuột.

Từ ngày có con mèo, lũ chuột không dám lộng hành nữa, nhưng muốn giữ con mèo thì tu sĩ ngoài việc xin thêm cơm chay còn phải xin thêm sữa để nuôi con mèo. Có vị Phật tử hảo tâm cúng dường con bò để lấy sữa cho con mèo. Tu sĩ vui vẻ nhận con bò, nhưng bây giờ tu sĩ phải xin cỏ cho bò ăn.

Thấy vậy dân làng biếu tu sĩ một mảnh đất và dụng cụ canh nông để tu sĩ lo canh tác mà nuôi bò. Tu sĩ ra công cày cấy, trồng rất nhiều rau cỏ, bò ăn hoài không hết nên phải đem ra chợ bán bớt. Miếng đất quá phì nhiêu nên tu sĩ làm không xuể và phải nhờ người đến làm giúp.

Tu sĩ bây giờ có nhiều hoa lợi nên tiền bạc dồi dào bèn thuê thợ xây một cái chùa thật lớn. Ngày nào cũng lo mướn người khắc tượng, đúc chuông thật là vĩ đại nhưng thời gian tu hành không còn như trước. Bây giờ tu sĩ phải lo đồn điền, chùa to, tượng lớn, lo giao dịch buôn bán. Có tiền nhiều thì lo mua thêm đất mới để khai thác đầu tư.

Một hôm sư phụ trở về không thấy túp lều tranh mộc mạc mà thay vào đó là một ngôi chùa khang trang tráng lệ. Khách hành hương nô nức, ồn ào cúng vái van xin. Sau khi nghe người đệ tử giải thích nguồn cơn, sư phụ chỉ thở dài mà nói: “Xây cất đền thờ thật to chỉ là trói buộc, nào phải giải thoát. Tu tập tín đồ cho đông, ồn ào phức tạp chỉ gây trở ngại cho việc thanh tu. Than ôi chỉ vì một chiếc áo rách mà con đã đi thật xa, xa hẳn con đường mà ta đã chỉ dạy nhằm việc giải thoát. Con chỉ lầm lẫn một chút mà đã đi lạc đường lúc nào không hay. Nếu mình bị trói buộc vào các thứ đó rồi thì làm sao có thể giải thoát được?

(Trích Kinh Duy Ma Cật Giảng Giải – Lê Sỹ Minh Tùng)

Nếu là người không có tôn giáo, trước khi chết (lúc hấp hối) nên làm gì?

Bạn không nên chờ đợi cho đến trước khi chết hay đến lúc hấp hối rồi mới niệm (niệm tức tưởng, nghĩ đến) cho dù bạn theo hay không theo một tôn giáo nào. Ghi nhớ và thường xuyên quán niệm những điều tốt đẹp cho mình và cho người như từ, bi, hỷ, xả là những đức tính cần thiết cho cuộc sống an bình, hạnh phúc, cho cả đời này và đời sau. Ai cũng có khả năng sống và thực hành những đức tính từ, bi, hỷ, xả đối với chính bản thân mình cũng như đối với mọi người chung quanh. Tất nhiên, chết chỉ an lạc khi nào sống an lạc. Vì đấy là nguyên tắc nhân quả tương quan. Tuy nhiên, trong trường hợp cận tử, hấp hối, và bạn mong muốn có một sự tái sinh tốt đẹp, trong những tình huống như thế, bạn nên niệm (cố nhớ đến hay suy nghĩ) về những điều thiện mà bạn đã từng làm được trong đời sống. Hãy nhất tâm phát nguyện, xin được thở những hơi thở cuối cùng với tâm từ, bi, hỷ, xả. Bốn tâm vô lượng này đánh động tâm thức của bạn mạnh chừng nào, thì sự an lạc càng sâu thẳm chừng nấy. Bên bến bờ sinh tử của kiếp người, có lẽ không có cái gì quý hơn tâm thanh tịnh. Bạn hãy thầm niệm, nguyện xin cho ba nghiệp được thanh tịnh.

Trích Cẩm nang Phật tử

Vì sao Phật dạy phải quán cái chết? Quán như thế nào?

Quán cái chết hay gọi là niệm chết là suy nghĩ hay quán niệm về sự tan rã, vô thường, và đoạn diệt của thân năm uẩn. Niệm chết để làm gì? Đức Phật dạy: “Niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. Niệm chết nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.” Niệm chết là một cách thức độc đáo để đánh thức bạn đi ra khỏi những nỗi ám ảnh về được mất, vui, buồn, khen chê, danh vọng và không danh vọng. Trước sau rồi mọi người ai cũng sẽ chết. Cuộc sống là vô định, nhưng chết thì cố định. Cuộc sống thì không chắc chắn, nhưng chết là chắn chắn. Không ai tránh khỏi được điều đó. Quán niệm về chết, do vậy, sẽ là cách thức rất công hiệu giúp bạn buông bỏ những thứ lo âu, sợ hãi hão huyền và không cần thiết dang vây bủa trong nội tâm. Tất nhiên, sau những khoảnh khắc quán niệm về cái chết của chính mình, cho dù rất ngắn ngủi nhưng diệu dụng sẽ vô biên, và lúc ấy bạn sẽ tự biết mình cần phải làm cái gì để thành tựu mục đích và ý nghĩa cho cuộc sống của chính mình. Nếu niệm chết dầu chỉ vài phút mỗi ngày, bạn sẽ có khả năng an trú vào các thiện pháp, làm các việc lành, sinh khởi tâm từ bi, bao dung, tha thứ một cách rất mãnh liệt. Đức Phật dạy rằng có rất nhiều nhân duyên có thể đem đến cái chết. Và nếu như các pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận mà cái chết xảy đến thì đây quả là một chướng ngại lớn lao cho chúng ta. Chính vì vậy, Ngài đã khuyên rằng: “Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy cần phải suy xét như sau: “Nếu ta còn có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung đêm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta.” Này các Tỳ-kheo, để đoạn tận các pháp ác bất thiện ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Ví như, này các Tỳ-kheo, áo bị cháy hay đầu bị cháy, thời để dập tắt áo ấy hay đầu ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, để đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy, cần phải tận lực tác động ước muốn, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực, không có thối chuyển, chánh niệm và tỉnh giác.”

Nên thực tập niệm chết vào lúc nào?

Mỗi tối khi đi ngủ và mỗi sáng khi thức dậy, bạn hãy để vài phút để niệm chết. Hãy thầm niệm rằng: Trước sau rồi thì ai cũng chết. Hôm nay mình còn cơ hội để sống, hãy sống hết mình cho cuộc sống của mình. Chỉ có những gì trong sạch và chân thành mới có thể đem lại hạnh phúc lâu dài cho chính mình, dù sống hay là chết. Ngày mới sẽ bắt đầu với lời phát nguyện nỗ lực buông bỏ mọi suy nghĩ tiêu cực, xấu ác, những chướng ngại của vui buồn, hơn thua; nguyện sống hết lòng với những gì tốt đẹp nhất cho mình và những người chung quanh. Với sức mạnh của chánh niệm khi suy nghĩ về sự chết, bạn có thể rửa sạch mọi tham giận kiêu căng, các tật đố hiềm tị, và làm cho cuộc sống nội tâm được an bình ngay tức khắc. Trong truyền thống Mật tông Tây Tạng, quán niệm về tám giai đoạn tan rã của tiến trình chết sẽ giúp làm quen với sự chết. Khi giờ phút lâm chung xảy đến, bạn sẽ an nhiên tự tại ra đi mà không còn sợ hãi nữa.

Trích Cẩm nang Phật tử

Hay nè: Tám giai đoạn tan rã của thân và tâm diễn ra khi chết như thế nào?

Tất cả chúng ta đều tò mò muốn biết điều gì sẽ xảy ra khi một người đang chết. Hãy đọc bài này bạn sẽ được mở tầm mắt ra nhiều. Bài này trích từ Cẩm nang Phật tử.

Tám giai đoạn ta rã của thân và tâm (năm uẩn) được diễn ra khi chết theo thứ tự từ thô đến tế như sau:

1/ Đất tan rã vào nước: khi sắc uẩn (cơ thể vật lý) tan rã, tâm sẽ rơi vào trạng thái giao động, khi tỉnh khi mê với những hình ảnh chập chờn.

2/ Nước tan vào lửa: khi thọ uẩn phân tán, cảm thọ suy yếu khiến cho tâm lúc khổ lúc vui, lúc nóng lúc lạnh; người sắp chết thấy một đám mây mờ như khói quyện.

3/Lửa tan vào gió: khi tưởng uẩn phân tán, tâm sẽ trở nên lơ lửng khi tỉnh khi mê với những ánh sáng lập lòe như đom đóm.

4/Gió tan vào thức: khi hành uẩn phân tán, tâm người chết trở nên hoang dã, không còn hay biết gì về thế giới bên ngoài, tất cả đều trở thành mù mịt; trong nội tâm người chết cảm thấy một ngọn đuốc rực sáng.

5/Tâm trở nên sáng suốt khi mọi ý niệm vui buồn… đều tan rã, ngoại cảnh trở nên trong sáng nhẹ nhàng như “bầu trời trong sáng dưới ánh trăng”.

6/ Tâm thức trở nên sáng suốt hơn, ngoại cảnh trở nên sáng rực như “mặt trời chiếu sáng giữa ban ngày”.

7/Tâm bỗng dưng chìm vào màng đêm dày đặc và rỗng không, tâm trở thành một trạng thái rỗng không, không có tư tưởng.

8/ Khi tỉnh giác trở lại, “ánh sáng căn bản” hay còn gọi là “tâm với ánh sáng trong” lóe lên như bầu trời trong sáng không có mây mù. Đức Đạt-lai-lạt-ma gọi đây là Phật tính, một dòng tâm thức sâu xa nhất và sẽ hiện hữu trong suốt cõi luân hồi cho đến khi hành giả thành Phật.

Đây là tám giai đoạn tan rã của thân và tâm trong tiến trình chết xuất hiện cùng với tám dấu hiệu: 1/hình ảnh chập chờn, 2/đám mây mờ, 3/ánh sánh lập lòe như đom đóm, 4/ngọn đuốc sáng rực, 5/áng sáng trắng như ánh trăng, 6/ánh sáng màu nắng mặt trời (màu vàng hoặc cam), 7/một màng đêm dày đặc, và 8/ ánh sáng toàn bích như bầu trời trong suốt, vô nhiễm.

Tám giai đoạn tan rã này liên hệ như thế nào với thân năm uẩn?

Tám giai đoạn tan rã này chính là sự tan rã tuần tự của thân năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sự tan rã đi từ đến không, từ thô đến tế, từ thân đến tâm. Dĩ nhiên, đây không phải là một học thuyết mang tính cách lý luận mà là những mô tả thực tại qua các giai đoạn tan rã của thân tâm trong tiến trình chết một cách chính xác, dựa trên tuệ giác của thiền định. Để có thể quán sát về sự tan rã của thân năm uẩn, chúng ta cần phải quán niệm năm uẩn qua ba cấp độ khác nhau của thân và tâm: tổng thể năm uẩn (thô), các căn của năm uẩn (tế), các năng lượng năm uẩn (vi tế). Đối với thân thể, tổng thể năm uẩn chính là con người bằng xương bằng thịt, một cơ thể toàn diện và đầy đủ năm yếu tố (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) bao gồm các giác quan. Nếu tiếp tục phân tích, năm uẩn bao gồm đất, nước, gió, lửa, và không gian. Tiếp tục phân tích nữa, năm uẩn bao gồm các hợp chất, các phân tử hóa học .v.v. các phân tử này chúng quá tinh tế nên không thể nhìn thấy bằng mắt được. Các căn của năm uẩn là hệ thống thần kinh chủ đạo và năng lượng trung tính. Các năng lượng vi tế là các năng lượng mang ánh sáng trong như chân không. Đối với tâm thức, cấp độ thô là sáu giác quan; cấp độ tế là các loại tâm và tâm sở; và cấp độ vi tế là tâm của ánh sáng trong (linh quang), một bản tâm thuần tịnh được sinh khởi trên nền tảng của trạng thái tâm không có tư tưởng.

Trích Cẩm nang Phật tử

Kiến hoặc và Tư hoặc

Kiến hoặc và tư hoặc là hay danh từ được dùng để phạm trù hóa hai hình thức si mê của chúng sinh chưa giác ngộ.

Kiến hoặc là những si mê về tri kiến; và tư hoặc là những si mê về các hành nghiệp. Nói khác đi, kiến hoặc là những thứ phiền não thuộc về lý và tư hoặc là những phiền não thuộc về sự.

Theo Duy thức (Yogācāra) kiến hoặc có năm loại đó là: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, và tà kiến. Tư hoặc cũng có năm loại đó là: tham, sân, si, mạn, và nghi. Cộng chung cả kiến hoặc và tư hoặc sẽ bao gồm mười loại phiền não (kleśa) căn bản, là cội nguồn của sinh tử khổ đau.

Đối với các tư hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi), vì tính chất của nó rất sâu nặng, u ám, khó dứt trừ nên được gọi là độn sử (khó điều phục). Ngược lại đối với các kiến hoặc thì tính chất của nó thuộc về nhận thức, dễ điều phục hơn nên được gọi là lợi sử. Do vậy, về mặt tu tập, chỉ khi nào hành giả đạt đến địa vị Tu đạo trở lên thì mới đoạn trừ được các tư hoặc. Đối với kiến hoặc, hành giả khi bước vào địa vị Kiến đạo thì có thể đoạn trừ các tri kiến mê lầm này. Bậc Thánh A-la-hán được xem là đã đoạn trừ tất cả kiến hoặc và tư hoặc.

Trích Cẩm nang Phật tử

Ở tuổi gần đất xa trời với nhiều bệnh tật nên tu tập như thế nào?

Đây là một vấn đề thú vị và hữu ích. Nếu bạn còn trẻ, hãy in bài này tặng người già trong gia đình

Khi biết chắc rằng qũy thời gian của bạn không còn nhiều nữa, bạn nên dành thời gian để quán niệm về giáo pháp vô ngã và chuyên cần hành trì pháp môn tu tập (thiền, tịnh, hay mật) của mình. Tuổi già là cơ hội quý báu để bạn tu tập và làm mới lại chí nguyện của mình sau bao năm tháng phiêu linh, vì bấy giờ áp lực của cuộc sống không còn đè nặng trên thân xác của bạn nữa. Tuy nhiên, niềm nối tiếc quá khứ và nỗi sợ hãi từ giã cõi đời lại là vấn đề làm bạn bị phân tâm. Do vậy, quán niệm về vô ngã sẽ giúp bạn buôn bỏ mọi bám víu một cách dễ dàng hơn. Đồng thời, ý thức sâu sắc về nhân quả nghiệp báo của đời này và đời sau sẽ là dòng năng lượng giúp bạn trổi dậy các thiện nguyện cao đẹp của mình. Niềm tin vào nhân quả nghiệp báo trong lúc này sẽ giúp bạn tự tâm sám hối các lỗi lầm trong qúa khứ và phát triển các thiện niệm tha thứ, khoan dung đối với mọi trở lực đã xảy ra trong suốt cuộc đời của mình. Biết quán niệm và tu tập phát triển các thiện tâm trong lúc tuổi già là niềm hạnh phúc vô biên của người Phật tử. Nên nhớ rằng, bạn có thể trở thành một vị thiên (trời) hay một chúng sinh ở cõi Tịnh ngay sau khi tắt thở nếu bạn biết tu tập trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Theo Cẩm nang Phật tử