Lên đỉnh Thất Sơn

Thất Sơn, cái tên rất quen mà rất lạ. Quen bởi bất cứ ai sống ở Nam bộ đều biết đó là bảy ngọn núi huyền thoại ở tỉnh An Giang. Lạ vì mấy ai đã thật sự đặt chân tới ngần ấy đỉnh núi.

Nhìn từ núi Ông Cấm – Ảnh: T.Thế Dũng

Sáu giờ sáng khởi hành từ bến xe miền Tây thì đúng 2 giờ chiều tôi đặt chân lên những bậc thang đầu tiên của núi Ông Két hay còn gọi Anh Vũ Sơn. Bước thêm vài trăm bậc thì đến khối đá tròn, có nhiều phiến đá xếp chồng phía trên tạo thành hình đầu chim két trông rất ngoạn mục. Từ đây muốn lên chóp đỉnh phải vượt hàng loạt con dốc toàn đá hòn lớn nhỏ dưới tán lá rừng tái sinh.

Tôi mở máy khởi động GPS thiết bị định vị toàn cầu, sau vài phút chờ dò sóng vệ tinh, trên màn hình hiển thị 252m so với mặt nước biển. Không thể tin nổi vì nhiều tài liệu xác định núi cao 225m.

Chinh phục Cô Tô

Qua đêm tại thị trấn Tri Tôn, rạng sáng chúng tôi phóng xe máy rong ruổi đến khu du lịch Soài So, cửa ngõ duy nhất để chinh phục núi Cô Tô – Phụng Hoàng Sơn. Kế tiếp là thuê xe “đặc chủng” lên Sân Tiên cao điểm 298m. Đây là loại xe gắn máy bình thường song gắn nhông 13 răng và đĩa 47 răng cùng bánh xe đặc biệt nhằm vượt dốc có độ nghiêng gần 40%. Hành trình từ Sân Tiên lên Cấp Nhất địa danh chóp đỉnh Cô Tô qua lối mòn dẫn bước đến nhiều triền núi gối lên nhau dưới vườn cây ăn trái chen lẫn rừng trúc, rừng tre mạnh tông tạo cảm giác bình yên, thanh thản. Và cứ thế cho đến khi chúng tôi chạm tay vào cột mốc bằng bêtông được đúc trên tảng đá giữa bốn bề là nắng gió, đồng thời máy GPS báo kết quả 614m.

Sau hàng giờ lòng vòng thăm hỏi tại thị trấn Ba Chúc, cuối cùng chúng tôi cũng tìm được đường lên núi Tượng qua những vách núi cheo leo, đầy gai rừng. Song dù sao vẫn không đáng ngại bởi từ chân núi đến chóp đỉnh vốn là hai tảng đá chồng chất cao 145m. Duy có điều xung quanh trống trải tiêu điều, ngoài một miếu thờ cụ Thượng đẳng đại thần Nguyễn Trung Trực. Người ta kể vào tháng 4-1978 khi Khmer Đỏ vượt biên giới tàn sát dân làng Ba Chúc, đông đảo người dân kéo nhau lên núi tìm hang đá để ẩn nấp hàng tháng ròng.

Khám phá Thiên Cấm Sơn

Theo lối mòn về phía tây, chúng tôi lần bước qua nhiều nương rẫy và tìm về núi Nước. Gọi là núi nhưng thật ra chỉ cao 17m và được cấu tạo từ những tảng đá lớn nhỏ chồng chất lên nhau giữa hồ nước mênh mông, chẳng khác hòn non bộ khổng lồ. Tuy nhiên, điều dễ nhận ra nơi đây rất lý tưởng để những ai muốn tìm đến không gian thanh tịnh, chiêm ngưỡng cảnh đẹp xung quanh. Nhìn về đằng tây, mặt trời tựa khối cầu lửa đang xuống dần sau rặng núi.

Núi Ông Cấm tên chữ là Thiên Cấm Sơn, được tôn vinh là ngọn núi hùng vĩ, linh thiêng và kỳ tích nhất bảy núi. Kỳ thực, đứng trên Vồ Bồ Hong, chóp đỉnh Cấm Sơn, ở độ cao 710m người ta có thể ngắm nhìn cả một vùng không gian bao la rộng lớn. Gần thì năm non: Vồ Đầu, Vồ Bò Hong, Vồ Thiên Tuế, Vồ Bà, Vồ Ong Bướm tọa lạc ngay trên núi Cấm, xa hơn một chút là quần thể núi đá xung quanh, xa hơn nữa là khu vực Hà Tiên, miệt Châu Đốc, lãnh thổ Campuchia… Cấm Sơn còn mang trong mình biết bao truyền thuyết kỳ bí: chuyện các vị đạo sĩ tu đắc đạo thành tiên, chuyện những người ngậm ngải tìm trầm, kho báu biến thành “xà niêng” điên dại..

Ở núi Dài Nhỏ – Năm Giếng, do vách núi chia cắt hiểm trở, khó xác định vị trí chóp đỉnh nên sau hơn một giờ hì hục leo trèo, nhìn xa xa nổi bật trên bầu trời chênh vênh mỏm đá khổng lồ ai cũng ngỡ đã đi đúng hướng. Tuy nhiên khi tới nơi, chúng tôi phát hiện thêm cụm đá chồng cao hơn nằm sâu trong rừng và khuất giữa đám rễ cây cổ thụ bám chằng chịt. Và thế là lại tái diễn cảnh chặt cây mở đường và tiếp tục trườn mình trên mặt đá như làm xiếc cho đến tận chóp đỉnh. Trong không gian tĩnh mịch, tranh tối tranh sáng của thời khắc cuối ngày, tôi vẫn thấy GPS định vị 268m.

Vòm hang trên núi Ông Két – Ảnh: T.Thế Dũng

Di tích lịch sử quốc gia

Núi Dài – Ngọa Long Sơn tuy nằm trong hệ thống Thất Sơn và đang sở hữu căn cứ Điện Trời Gầm Ô Tà Sóc đã được công nhận di tích lịch sử quốc gia, nhưng trong cái nhìn của người làm du lịch An Giang, nó là chốn hoang vu, hiểm trở, ít tiềm năng. Chính nhờ vậy mà núi Dài còn giữ được nét nguyên sơ, hùng vĩ…

TRẦN THẾ DŨNG

Theo TTO

Lên núi Cấm săn… cua

Núi Cấm hiện là một trong những nơi thu hút khách nhất ở An Giang nhờ khí hậu mát mẻ. Đến đây, du khách sẽ có dịp săn cua núi thật thú vị và tổ chức tiệc vui ngay giữa chốn thủy tú sơn kỳ. Lần đầu tiên đặt chân lên núi Cấm, chắc chắn bạn sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ diệu của núi rừng. Cảnh vật ở đây thật êm đềm hoang sơ, vừa ngân nga tiếng chuông chùa huyền diệu, vừa xào xạc gió rừng hòa ca.

Theo chân thợ săn cua núi

Tại đây, bạn có thể dạo quanh hồ Thủy Liêm xem cá bơi lội thành đàn và tham quan các chùa chiền, miếu mạo tại trung tâm hành hương hoặc các khu di tích nằm rải rác ở các vồ (mỏm) Thiên Tuế, vồ Đầu, vồ Bò Hông…Nhưng trước hết, bạn có thể tìm một “thổ địa” vùng Thất Sơn đưa đi săn cua núi. Tuyệt lắm!

Anh Sơn, một tay săn cua núi có tiếng, đã hết sức nhiệt tình dẫn chúng tôi băng rừng lội suối, mò cua. Tất cả đều xắn quần lội bộ dọc theo những con suối ngoằn ngoèo. Anh Sơn cho biết loài cua núi thường ẩn trú trong các hang hốc, kẹt đá nên muốn bắt phải nhào xuống nước hoặc tìm cho ra miệng hang. Thời gian săn cua thích hợp nhất là sau những đêm mưa. Vào buổi sáng, các đàn cua thường mò ra suối kiếm ăn. Nhiều người dân vùng Thất Sơn bảo càng lên cao, cua càng ngon, thịt chắc và ngọt. Anh Sơn bắt đầu hướng dẫn mọi người buộc một chùm dây thun vào đầu cần câu rồi tìm miệng hang thả xuống, nhấp nhấp vài cái.

cua núi

Giống cua núi hung hăng gấp bội so với cua đồng, lại vừa háu ăn, nên khi thấy dây thun tưởng đâu là mồi nên vội dùng đôi càng to khỏe kẹp lại. Càng của chúng sắc nhọn, có thể kẹp đứt đầu chiếc cần vót bằng tầm vông, thế nên người ta thường bao bọc miếng inox quanh đầu cần. Khi cua đã kẹp mớ dây thun, khách săn cua chỉ cần giở nhẹ cần lên bỏ vào túi ni-lông là xong.

Đi một đoạn, cả nhóm lại phát hiện có một chú cua thật to đang luồn lách dưới dòng nước trong như mắt mèo. Mọi người mừng húm nhưng không ai dám động thủ, vì thấy nó giương càng tấn công, đúng là cua ở vùng Thất Sơn dữ tợn thật.

Ban ngày câu, ban đêm dùng đèn để soi vì loại cua núi cũng thường đi ăn vào ban đêm. Thức ăn chính của cua núi là trùn và lá cây. Lúc đói chúng bò lên hai bên bờ suối để tìm mồi. Anh Sơn nhìn tôi phân bua: “Để bảo vệ và duy trì nòi giống của đàn cua núi, anh em tụi tui tuyệt đối không bao giờ săn cua con và cua trứng”.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ, chúng tôi quay về với một giỏ cua khá nặng. Anh Sơn mời chúng tôi đến quán ăn của anh bên cạnh bờ hồ Thủy Liêm để thưởng thức món cua rang me do chính anh trổ tài làm bếp.

Vui tuyệt đỉnh

Anh Dương Hóa, tổ trưởng tổ bảo vệ khu du lịch trên đỉnh núi cho biết, cua núi là một loài quý hiếm, một thứ “đặc sản” trên núi Cấm. Mình nó to như cua đồng nhưng càng “cái” to hơn, yếm cua màu tím rất đẹp. Bà con ở địa phương cho biết cua núi không những ngon mà còn chứa nhiều vị thuốc vì chúng sống trong môi trường tinh khiết, ăn lá rừng và… hấp thụ linh khí vùng thủy tú sơn kỳ.

Cách chế biến cua ngon nhất hiện nay là rang me, hấp cách thủy và nấu canh hẹ.

Chính vì vậy nhiều du khách sành ẩm thực mỗi khi lên núi Cấm đều tìm mua một hai ký cua núi để mang về làm quà. Nhưng, đâu phải có tiền là mua được. Trên núi Cấm hiện nay chỉ có vài ba thanh niên biết cách khai thác. Người không quen đi suốt ngày cũng chưa chắc được con nào. Do đó, muốn ăn, du khách phải gọi điện đặt hàng trước khi đến.

Đúng như nhiều người ca ngợi, thịt cua núi rất đặc biệt, nó vừa thơm, vừa béo, nhất là yếm cua ngon hết chỗ chê. Cua núi chắc thịt, giòn và mềm, mùi vị thơm béo đặc trưng, ngọt đậm, không hôi cỏ như cua đồng.

Thịt cua đã ngon lại nhờ bàn tay khéo léo của đầu bếp bằng cách ướp thêm các thứ gia vị như me, đường, hành, tỏi, muối, ớt và đậu phộng, càng làm món ăn trở nên tuyệt hảo.

Hấp dẫn nhất là mùi vị của nó vừa có đủ chua, cay, mặn, ngọt khiến cho ngũ quan người thưởng thức dễ bị kích thích. Nếu thực khách nào dùng được rượu mạnh chắc chắn sẽ có cảm giác ngất ngây khi nhâm nhi với thịt cua núi.

Hoài Phương

Miếu Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc

Miếu Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc

Miếu Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc

Theo truyền tụng trong dân gian thì tượng “Bà” đã có lâu đời. Cách đây khoảng 200 năm, “Bà” được dân địa phương phát hiện và được khiêng từ trên đỉnh núi Sam bằng 12 cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của “bà” qua miệng “cô đồng”, nên người dân lập miếu để tôn thờ. Có ý kiến khác cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi Thoại Ngọc Hầu về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.
Ban đầu miếu Bà được cất đơn sơ bằng tre lá. Năm 1870, ông Giáo Gia đề xướng xây cất lại thành ngôi miếu ngói và sau đó còn trùng tu nhiều lần. Đến năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.
Kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban Quý tế…
Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.
Các nhà chuyên môn cho biết tượng Bà Chúa được tạo vào khoảng cuối thế kỷ 6 đầu thế kỷ thứ 7, bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao. Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại. Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.
Tượng thờ này thuộc nền văn hóa Óc Eo, mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, tương tự tượng Phật Bốn Tay ở chùa Linh Sơn ( thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, An Giang). Và thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo.
Nhà văn Sơn Nam cũng đã ghi: Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khơme, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…[3]
Và ngoài các bàn thờ Hội Đồng, Tiền hiền, Hậu hiền; cạnh tượng Bà Chúa Xứ, phía bên phải có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ, gọi là Bàn thờ Cô; phía bên trái có một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, gọi là Bàn thờ Cậu.

(sưu tầm)