Thăm Bhutan, đất nước Phật giáo

Người dân Bhutan gọi đất nước mình là Druk Yul – nghĩa là miền đất của Rồng sấm. Nằm ở phía đông dãy Himalaya, lọt thỏm giữa Tây Tạng và Ấn Độ, đối với thế giới bên ngoài, vương quốc Phật giáo Bhutan được coi là một Shangri-La (thủ phủ của khu tự trị Tây Tạng, Trung Quốc) thời hiện đại, do nguồn gốc văn hoá của đất nước này bắt nguồn từ văn hoá cổ Tây Tạng. Dấu ấn Phật giáo và nguồn gốc tôn giáo Tây Tạng có thể được nhìn thấy từ bất cứ nơi đâu trên khắp đất nước Bhutan.

Các nhà sư trẻ trên đường phố chính ở Thimphu

Từ Việt Nam, để đến được với đất nước Phật giáo Bhutan, nếu không phải đi theo đường công vụ, thì cách tốt nhất là bạn phải liên hệ với các công ty dịch vụ du lịch lữ hành tại Bhutan, để nhờ dịch vụ của họ về xin visa và tổ chức tour, vì Bhutan chưa có cơ quan ngoại giao chính thức tại Việt Nam. Các công ty này có thể được tìm thấy dễ dàng trên internet, nhưng bạn nên chọn các công ty được liệt kê trên trang web du lịch của chính phủ tại địa chỉ http://www.tourism.gov.bt.

Tại Bhutan, dịch vụ du lịch được quản lý khá đồng bộ và chuyên nghiệp, đất nước này không khuyến khích bạn tự do khám phá đất nước họ mà không có người hướng dẫn. Bù lại, các tour du lịch được tailor – made (thiết kế) theo ý bạn một cách linh động nhất. Chỉ khi có visa và lịch trình tour dự kiến, bạn mới có thể đặt được vé máy bay của hàng không Bhutan (DrukAir), là hãng hàng không duy nhất được phép bay vào Bhutan. Các chuyến bay chỉ có từ 2 địa điểm là Bangkok (Thái Lan) và Kolkata (Ấn Độ), cũng là điểm dừng bắt buộc của chuyến bay từ Bangkok.

Mùa du lịch cao điểm là tháng 3 – 4 và nhất là mùa lễ hội từ cuối tháng 9 đến hết tháng 11 hàng năm. Thông thường, do chính sách phát triển du lịch bền vững của Bhutan với lượng khách được duy trì không vượt quá công suất phục vụ, khách du lịch muốn đến thăm Bhutan thường đặt tour trước vài tháng (chắc chắn hơn cả là trước 6 tháng cho mùa du lịch tháng 9).

Ở Bhutan, dễ dàng bắt gặp những hình ảnh thanh bình như thế này

Chi phí du lịch Bhutan thường được tính theo ngày, mới nghe có vẻ khá đắt đỏ (khoảng từ 200 USD/ngày), nhưng đó đã là bao gồm mọi thứ cần thiết cho chuyến du ngoạn tại đất nước này (thuế du lịch của chính phủ, ăn, ở, đi lại, hướng dẫn viên, quà lưu niệm – thường là sách, postcard về Bhutan), và sau khi đã trải qua chuyến đi, cảm giác hài lòng của du khách sẽ nhường chỗ cho nỗi băn khoăn về giá cả trước đó. Tiếng Anh là ngôn ngữ làm việc chính thức tại Bhutan, nên nếu bạn biết tiếng Anh, bạn không phải băn khoăn về việc giao tiếp hàng ngày.

Người Bhutan trông vẻ ngoài khá giống người Tây Tạng. Họ vẫn luôn mặc trang phục truyền thống của mình (gho cho nam giới, kira cho nữ giới) trong cuộc sống hàng ngày, nhất là đối với giới công chức và học sinh, sinh viên.

Là một đất nước Phật giáo, hình ảnh các nhà sư ở mọi lứa tuổi có thể được bắt gặp ở bất cứ đâu tại Bhutan. Trẻ em trai trong độ tuổi từ 6 – 9 đã bắt đầu cuộc sống tu hành trong các ngôi chùa, nơi các nhà sư được học ngôn ngữ cổ của kinh Phật, ngôn ngữ gốc của Bhutan và tiếng Anh. Các trẻ em này sau này có thể chọn lựa cho mình một trong hai con đường: học giáo lý nhà Phật và trở thành nhà sư, hoặc với đa số, là thấm nhuần về giáo và sống cuộc sống bình thường với đức tin của riêng mình.

Toàn cảnh thủ đô Thimphu của Bhutan nhìn từ trên cao, nơi thiêng liêng giăng đầy những lá cờ Phật mang lời nguyện cầu của người dân tới đức Phật

Một người nông dân ra thủ đô Thimphu bán nông sản, trên đường trở về nhà đang chạm tay cầu nguyện. Ảnh chụp tại quảng trường Tháp Đồng hồ tại thủ đô Thimphu

Cảnh sát giao thông ở thủ đô Thimphu và bục chỉ đường với các họa tiết trang trí thuộc “tám tướng cát tường” của Phật giáo Mật tông

Các vật phẩm cầu may được làm bằng đất sét và đặt tại các hẻm núi, hang đá

Minh Hương

(Theo SGTT)

Ayuthaya – Kinh đô cổ của Thái

Ayuthaya, khoảng 85 km về phía Bắc của Bangkok, là kinh đô cổ của Thái (Xiêm La) từ năm 1350 đến 1767 khi Miến Điện xâm lấn. Đã có 33 đời vui Xiêm trị vì ở đây. Nơi này còn lưu lại các dấu tích hoang tàn, một số được trùng tu về các cung điện, đền thờ…

Ayuthaya - kinh đô cổ của Thái

Ayuthaya - kinh đô cổ của Thái

 

Auyuthaya - một phần được trùng tu - ảnh chụp năm 2001

Auyuthaya - một phần được trùng tu - ảnh chụp năm 2001

Nhân dịp Lễ Năm Mới (hay là Lễ hội Té nước – Songkran), tôi có dịp đi Auyuthaya chơi, rất vui. Đến đó bạn sẽ được dạo chơi giữa các phế tích cổ xưa, mua sắm đặc sản Thái, cưỡi voi…, nhân dịp Lễ này thì mọi người sẽ bị (hay được?) té nước ướt sũng, thậm chí bị đổ nguyên chai nước từ trên đầu xuống, và bị trét một thứ bột trắng lên mặt, những việc làm này mang ý nghĩa là cầu phúc cho bạn.

Songkran, vào dịp Tết Thái, 13-15/04 hàng năm. Mọi người tha hồ nghịch nước và làm ướt người khác mà không bị... gì

Songkran, vào dịp Tết Thái, 13-15/04 hàng năm. Mọi người tha hồ nghịch nước và làm ướt người khác mà không bị... gì

Hình về Amsterdam

Hà Lan nằm sát biển, Đông giáp Đức, Nam giáp Bỉ.

Bản đồ đất nước Hà Lan - giáp Đức và Bỉ

Bản đồ đất nước Hà Lan - giáp Đức và Bỉ

 

Ga xe lửa trung tâm Amsterdam, kiến trúc cổ kính và rất rộng lớn

Ga xe lửa trung tâm Amsterdam, kiến trúc cổ kính và rất rộng lớn

Đến Hà Lan, ta không thể không nói đến khu Red Light District (khu đèn đỏ – mại dâm công khai). Tháng 2/2002 mình đã có dịp đến đó và nghỉ ở gần khu này. Những cô gái ăn bận “thiếu vải” đứng trong những ô cửa kính trưng bày, marketing cơ thể mình… tớ xúi anh bạn đi cùng vào hỏi giá cả (để nắm thông tin chứ :)) thì được biết 15 phút là €50 (mắc nhỉ, có ai mua 1 suất được không nhỉ? :))

Khu đèn đỏ - Red Light District của Amsterdam - hai bên đường là những ô cửa kính với ánh đèn đỏ mờ mờ ảo ảo...

Khu đèn đỏ - Red Light District của Amsterdam - hai bên đường là những ô cửa kính với ánh đèn đỏ mờ mờ ảo ảo...

Ngoài Red Light district ra, Hà Lan còn nổi tiếng với cối xay gió và hoa tulip (hoa Uất Kim Hương)

Hoa Tulip - Uất Kim Hương

Hoa Tulip - Uất Kim Hương

Dưới bóng Bagan

Ở Bagan, kinh đô cổ của nước Myanmar dưới thời vua Anawrahta (1044-1077), quá khứ vẫn bền bỉ hiện diện trong mọi ngõ ngách của đời sống hiện đại. Hơn 2.000 đền chùa cổ kính vẫn thi gan cùng tuế nguyệt ở vùng đất này, chúng là nơi giao thoa giữa quá khứ – hiện tại, một nơi nương tựa tâm linh gần như duy nhất cho cuộc sống quá đỗi gian khó của người Bagan.

Ananda – ngôi đền đẹp nhất Bagan

Từ Yangon (thủ đô cũ của Myanmar), chiếc máy bay ATR72-210 cánh quạt cũ kỹ của hãng Yangon Airways đưa chúng tôi đến thành phố cổ Bagan theo ngả Mandalay – cố đô của Myanmar. Sân bay nội địa ở Yangon nhìn chẳng khác gì ga Hàng Cỏ của Hà Nội 20 năm về trước.

Nhà ga cũ được phủ lớp sơn màu xám dưới ánh đèn mờ mờ càng tăng thêm vẻ u ám. Mới 6 giờ sáng, thời tiết đã oi bức khó chịu, nhưng toàn bộ khu vực nhà ga hàng không đều không gắn máy lạnh.

Không chỉ có sân bay này mà hầu khắp các nhà hàng, khách sạn chúng tôi có dịp ghé qua trong hành trình thăm Myanmar đều không có máy lạnh, trừ trong phòng khách sạn. Thậm chí nhiều nơi không lắp quạt, còn đèn chỉ được bật hạn chế. Tiết kiệm là cách duy nhất người Myanmar có thể làm khi lưới điện quốc gia đói điện một cách trầm trọng vì hoàn toàn phụ thuộc vào thủy điện.

Bagan dưới ánh nắng mặt trời

Những cụm đền cỏ nối tiếp nhau ở Bagan

Tháng 5 đang là cao điểm mùa khô ở xứ này, ngay cả dòng sông lớn Ayeyarwaddy ở Bagan cũng cạn kiệt nước nên mất điện là chuyện thường ngày. Trên những đường phố ở Yangon và thành phố Bagan, máy phát điện của các hộ gia đình cứ đến chiều tối lại chạy ầm ầm, tỏa ra mùi xăng dầu khét lẹt và làm tăng thêm sức nóng trên mặt đường.

Chuyến bay sớm từ Yangon đi Bagan mất một giờ rưỡi, tính cả thời gian transit hơn mười phút ở Mandalay. Bay nội địa với Yangon Airways chỉ cần một chiếc thẻ lên máy bay, trên đó không ghi tên với số ghế, khách cứ việc ngồi tự do. Người hướng dẫn của đoàn phát cho mỗi người một mảnh giấy dán có in logo con voi bay của Yangon Airways để dán vào ngực áo. Thế là xong!

Thậm chí ở sân bay Bagan Nyaung Oo của thành phố Bagan (cách Yangon hơn 600km) những thiết bị thường thấy ở một nhà ga hàng không như bảng điện tử, máy vi tính… cũng không có, chỉ có máy kiểm tra hành lý. Nhưng bay với hãng này là một sự trải nghiệm thú vị theo hai chiều ngược nhau.

Các cô tiếp viên mặc đồng phục váy đen với áo màu cam hoặc cốm vô cùng xinh đẹp và luôn cười tươi với khách, trong khi cơ trưởng chuyến bay vừa nhai trầu (đàn ông Myanmar thích nhai trầu) vừa điều khiển máy bay với một cú cất cánh mà cô bạn cùng đoàn ngồi cạnh tôi mô tả là “dựng ngược” máy bay lên.

Mười lăm phút nối chuyến ở sân bay Mandalay là 15 phút chờ đợi dằng dặc như một ngày rưỡi, bởi khách bay tiếp đi Bagan phải ngồi trên máy bay trong điều kiện máy lạnh bị tắt. Tôi và cô bạn mồ hôi nhễ nhại, đành tự an ủi nhau “hết khổ là vui ấy lẽ đời”.

Chưa hết cái khổ này lại đến cái khổ khác. Vừa đặt chân xuống sân bay Bagan Nyaung Oo, thành phố này như đã muốn “xông hơi” du khách bằng khí hậu nóng và khô với nhiệt độ hơn 40 độ C. Hơn 8g sáng, ánh mặt trời đã nung nóng những con đường, sấy khô những ngọn cây nim – loại cây tán rộng cho bóng mát mọc nhiều ở đây và vắt kiệt nước trong cơ thể người Bagan, khiến họ trông như những cây sậy quắt queo vì nắng.

Một gia đình nghèo vào đền Ananda trốn nóng

Lạ thay, dưới cái nóng như rang, những cánh hoa giấy mỏng tang vẫn vươn cao khoe sắc. Vẫn biết đây là giống hoa giỏi chịu nắng nhưng tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên trước sức chịu đựng phi thường của nó. Dường như ánh nắng thiêu đốt chỉ giúp tôn thêm vẻ đẹp của loài hoa này và làm ta tạm quên đi sự khắc nghiệt của khí hậu.

Khách sạn Bagan River View – nơi chúng tôi tạm trú – nép mình sát bờ sông Ayeyarwaddy, được xây bằng gạch nâu đỏ để mộc, có kiến trúc cổ rất phù hợp với những ngôi đền nằm rải rác xung quanh. Cây xanh và hoa được trồng rất nhiều nhưng cũng không xua tan được hơi nóng khủng khiếp lên tới 45-46 độ C. Sảnh khách sạn rộng và đẹp, song nóng hầm hập vì không có máy lạnh và quạt.

Bù lại, chúng tôi được đặt chân vào một cuộc viễn du kỳ thú, trên chuyến xe ngược thời gian trở về quá khứ của miền đất từng một thời trên đỉnh vàng son.

Thời cực thịnh nay còn đâu!

Xưa kia, Bagan từng đạt tới điểm phát triển cực thịnh của mình dưới sự trị vì của vị vua anh minh Anawrahta. Thành phố nằm bên bờ đông sông Ayeyarwaddy, được vua Anawrahta xây dựng vào năm 1044 và trở thành thủ đô của Myanmar trong hai thế kỷ rưỡi, từ đầu thế kỷ XI đến thế kỷ XIII.

Trong suốt giai đoạn phát triển rực rỡ trên 250 năm ấy, thành phố ở vùng đất khô hạn miền Trung Myanmar đã trở thành di tích lịch sử quan trọng nhất đất nước, nơi từng có tới hơn 4.446 ngôi đền thờ bằng gạch nung.

Nữ nghệ nhân Bagan đang chế tạo đồ thủ công

Tuy nhiên, những đứt gãy trong lịch sử, đặc biệt là sự sụp đổ của vương triều Myanmar thứ I và trận động đất kinh hoàng xảy ra tại đây vào năm 1975 đã biến nhiều ngôi đền thành tro bụi. Người Myanmar có một câu nói rất nổi tiếng, nôm na là “Những thanh âm ngọt ngào của những vòng quay bánh xe mới đếm được số lượng các ngôi đền ở Bagan”. Đó là cách nói đầy tự hào của dân Bagan đối với những di sản mà ông cha họ truyền lại.

Thật vậy, với khoảng 2.230 ngôi đền cổ còn sót lại đến ngày nay (theo ước tính từ năm 1993 của UNESCO và Cục Khảo cổ Myanmar) trên mảnh đất chỉ rộng 42km2, Bagan xứng đáng là một thiên đường của những ngôi đền, được công nhận là một công trình vô giá, là “di tích khảo cổ tráng lệ và đầy ngạc nhiên nhất ở châu Á”.

Đến đây, bạn sẽ thấy bốn góc của Bagan cũ (Old Bagan, để phân biệt với khu Bagan mới) tọa lạc bốn ngôi chùa tháp và đền nổi tiếng với những cấu trúc tiêu biểu cho thánh địa này. Mỗi di tích lại được ca tụng bằng một chữ “nhất”: chùa Shwezigon cổ kính nhất; đền Ananda đẹp nhất; đền Thatbyinnyu cao nhất (63m) và đền Dhamayangyi đồ sộ nhất có kiến trúc giống hình kim tự tháp, thường được người Myanmar gọi là “kim tự tháp đỏ” do được xây bằng loại gạch có màu nâu đỏ.

Ở xứ Myanmar huyền bí này, đời sống tâm linh của người dân đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Người ta có thể đói, có thể nghèo nhưng không thấy khổ, bởi họ biết nương nhờ cửa Phật, biết tìm niềm vui sống sau hàng giờ lặng lẽ ngồi tụng kinh niệm Phật trong những ngôi chùa đồ sộ lấp lánh ánh vàng.

Người ta có thể ấn mình trên những chiếc xe chở khách cũ rích và chật như nêm hay đạp xe giữa trưa hè nắng cháy, nhưng ánh mắt bỗng sáng lên niềm hạnh phúc, an lạc khi nhìn thấy ngôi chùa vàng Shwezigon thấp thoáng xa xa. Trang phục đi lễ của người Bagan có thể cũ nhưng nhất thiết phải sạch.

Gỗ cây Thanakha bán trong chợ thị trấn Nyaung Oo

Ở Shwezigon là ngôi chùa vàng đầu tiên được xây dựng tại Myanmar. Người dân địa phương nói rằng có một xá lợi của Đức Phật đang được thờ. Có lẽ vì thế mà người dân càng tôn sùng ngôi chùa nằm ở thị trấn Nyaung Oo. Đó còn là nơi chứa hài cốt các nhà sư, xung quanh chùa được bao bọc bởi cụm đền, miếu nhỏ hơn.

Pan Hsai Myoe, nghĩa là “mười bông hoa” là tên gọi mười nghệ thuật và nghề thủ công truyền thống nổi tiếng của người Myanmar dưới thời Bagan còn là thủ đô. Nhiều nghề thủ công đã từng được sử dụng để xây dựng các đền chùa ở Bagan từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII và vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Tiêu biểu là pan tee (nghệ thuật điêu khắc tượng trên kim loại), pan tamaw (chế tác đá và đá quý), pan chi (nghệ thuật vẽ), pan put (làm gốm sứ), và pan yun (chế tác đồ sơn mài).

Chùa Shwezigon ở Bagan

Ngôi chùa cổ Shwezigon được vua Anawrahta xây dựng từ thế kỷ XI nhưng được hoàn thành bởi vua Kyansittha – người kế vị vua Anawrahta qua đời năm 1077. Nhiều tượng Phật được khắc trên kim loại, cả lớn lẫn nhỏ, bằng vàng và đồng còn được lưu giữ trong chùa gợi nhớ lại nghệ thuật pan tee nổi danh từ thời Bagan (thế kỷ XI-XIII).

Người thợ thủ công Bagan xưa rất tinh xảo trong việc kết hợp năm loại kim loại, bao gồm cả vàng, bạc, rồi nung chảy chúng và tạc thành những hình mặt người trên các bức tượng sao cho những kim loại quý này hiện lên trên mỗi khuôn mặt tượng. Có thể tìm thấy bốn khuôn mặt được tạc theo lối này trên các bức tượng trong chùa Shwezigon, mỗi khuôn mặt tượng có chiều cao tới bốn mét.

Một thế giới không phẳng

Ở Myanmar, mọi khoảng cách vẫn còn về đúng với nghĩa đen của nó chứ không như quan niệm của thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Sự đóng cửa với thế giới bên ngoài khiến đất nước rộng gấp đôi Việt Nam (676.577km2) và có dân số 54 triệu này trở thành một ốc đảo bé nhỏ và tách biệt với những nền văn minh bên ngoài.

Sang Myanmar, tốt nhất không nên mang theo những vật dụng hiện đại, bởi chúng sẽ trở nên vô dụng. Điện thoại di động không sử dụng được vì không có dịch vụ roaming, còn nếu muốn mua thẻ điện thoại quốc tế để gọi về Việt Nam, bạn sẽ phải bỏ ra rất nhiều tiền. Một cách khác rẻ hơn cũng khiến bạn xót: trả 5 USD cho một phút gọi về nước từ khách sạn mà chất lượng cuộc gọi rất kém.

Internet là thứ cực quý hiếm ở đây vì ngay cả một khách sạn lớn như Bagan Hotel cũng chỉ có một chiếc máy tính duy nhất trong Business Center, nói gì đến WiFi. Tôi đã bỏ ra 5 USD để có thể check mail trong nửa giờ từ chiếc máy tính này và cũng chỉ vào được Gmail với tốc độ rùa bò.

Cô bé Kthwemoe (trái) và bạn đang bán hàng ở đền Shwe San Daw

Trên ngôi đền Shwe San Daw – nơi ngắm hoàng hôn lý tưởng ở Old Bagan – tôi rợn người khi nhìn những em bé Bagan đen nhẻm vì nắng, mặt bôi thanakha (một loại bột mài ra từ cây gỗ thanakha mà người Myanmar tin rằng có tác dụng chống nắng), đầu trần chân đất leo lên ngôi đền dốc đứng. Chúng chạy thoăn thoắt khắp ngôi đền, mời những vị khách du lịch chưa hết choáng vì độ cao mua những tấm bưu ảnh, vòng đeo tay, tranh cát, longyi – loại váy truyền thống của đàn ông Myanmar.

Trẻ con bán hàng ở đây nói tiếng Anh khá giỏi và có thái độ khá dễ chịu, dù chúng cũng bám khách. Tôi hỏi Kthwemoe – một cô bé 16 tuổi có nụ cười tươi như hoa rằng một ngày bán được bao nhiêu tiền. Cô bé nhoẻn miệng cười, nói chỉ bán một buổi vào giờ nghỉ học để đỡ đần bố mẹ. Cái hay là trẻ bán hàng dù đi theo khách mời mua hàng nhưng vẫn vui vẻ chuyện trò với khách như bạn bè dù không bán được hàng.

Tượng Phật trong một ngôi chùa

Lang thang trong những ngày ở đây, giữa xứ sở Phật giáo có quá nhiều di sản vô giá này, tôi cứ băn khoăn tại sao dân Myanmar còn nghèo quá. Họ đang sống một cuộc sống giống như người Việt Nam thời bao cấp. Bao giờ quốc gia này tìm lại thời hoàng kim xưa, khi Bagan dưới sự cai trị của nhà vua Anawrahta xây dựng nên những công trình tôn giáo được cả thế giới ngả mũ kính phục. Một đất nước giàu tài nguyên khoáng sản, đủ dầu mỏ, gỗ, thiếc lẫn đá quý, cẩm thạch… nhưng không có đủ điện dùng vào mùa khô thì thật là đáng tiếc.

Theo NGUYỄN CHÍ
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần

Một ngày trên nóc nhà Tây Âu

Cuối tháng 4, mùa xuân đã hiện diện khắp vùng núi rừng Alpes qua hình ảnh những con suối trong vắt cuồn cuộn chảy, những dòng thác trắng xóa như tuyết bất ngờ tuôn ra từ những kẽ đá hoa cương lưng chừng trời. Nhưng đỉnh Mont Blanc (Bạch Sơn) vẫn phủ một màu tuyết trắng.

Từ các sườn núi trên ngọn Bạch Sơn, có thể thấy dấu vết của những người trượt tuyết đang lao xuống – Ảnh: Mạc Đại

Từ Bệnh viện Đại học Genève, chỉ mất năm phút đi ôtô chúng tôi đã đến biên giới Pháp – Thụy Sĩ và bon bon trực chỉ hướng dãy Bạch Sơn mà không phải qua thủ tục kiểm tra giấy tờ nào. Hoa rộn ràng reo vui khắp nơi trong cái nắng thanh khiết của núi rừng Alpes.

Những ngôi làng sơn cước duyên dáng trải dọc các thung lũng và lưng chừng núi. Khách du lịch cố ý tránh xa con đường cao tốc vốn không ồn ào lắm để băng qua những đồng cỏ xanh mướt, lấm tấm vàng bởi vô vàn những đóa bồ công anh. Chỉ một tháng nữa thôi những bông hoa bồ công anh này sẽ tung bay trong gió trắng xóa cả đất trời.

Mê mải ngắm nhìn cảnh đẹp hai bên đường, chẳng mấy chốc chúng tôi đã thấy dãy Bạch Sơn sừng sững trước mặt. Không riêng gì tôi, một người đến từ xứ nhiệt đới, Thomas – anh bạn người Hi Lạp đang làm việc tại Bệnh viện Đại học Genève vốn chẳng xa lạ với những đỉnh núi tuyết và những môn thể thao mùa đông, cũng không giấu nổi sự phấn khích. Bạch Sơn cao vút đến đỉnh trời, lấp lánh trong nắng như được dát bạc.

Với độ cao 4.800m, đây là ngọn núi cao nhất Tây Âu và nếu tính cả châu Âu thì chỉ đứng sau ngọn Elbrus trong dãy Ural của Nga.

Dãy Bạch Sơn nhìn từ xa với đỉnh núi quanh năm tuyết phủ – Ảnh: Mạc Đại

Ngọn núi quanh năm tuyết phủ trắng xóa này có một hấp lực hết sức mạnh mẽ với khách du lịch. Những ngày cuối tuần vừa qua, đường hàng không các nước châu Âu bị đóng cửa vì núi lửa ở Iceland phun trào nên càng có nhiều ôtô hướng về thị trấn Chamonix ở thung lũng dưới chân núi.

Chamonix nằm ở độ cao 1.030m nên cư dân hầu như chỉ sống bằng du lịch và dịch vụ. Thị trấn nhỏ, đường phố nhỏ và cửa hiệu cũng nhỏ nhưng tất cả đều sạch bóng và rạng rỡ. Chúng tôi chọn tuyến cáp treo lên ngọn Nam Châm (l’Aiguille du Midi) ở độ cao 3.842m để đến gần với đỉnh Bạch Sơn nhất. Bước ra ngoài cabin cáp treo, tôi bị lóa mắt vì màu trắng chói chang của tuyết dưới ánh mặt trời tháng 4. Cảm giác thật phấn khích.

Dù không sợ độ cao nhưng tôi vẫn cảm thấy một luồng khí lạnh chạy dọc xương sống khi nhìn xuống những vực thẳm hun hút ngay dưới chân mình. Trạm quan sát được đặt cheo leo trên đỉnh Nam Châm, ở đó nhìn xuống chỉ thấy Chamonix bé xíu thấp thoáng dưới những làn mây trắng. Nhìn về phía chân trời thật khó phân biệt tuyết và mây.

Con đường dẫn ra các sườn núi chỉ dành cho người đi trượt tuyết  – Ảnh: Mạc Đại

Bạch Sơn quả đúng là thiên đường của những người yêu thích trượt tuyết. Những người mới bắt đầu làm quen với môn thể thao này hoặc những ai yếu bóng vía chọn những sườn dốc thoai thoải và rộng rãi. Số ngược lại gần như không ngại bất cứ thử thách nào. Nhìn những chấm đen tí tẹo trôi vun vút từ những vách núi dựng đứng, tôi không khỏi khâm phục. Vào một ngày đẹp trời năm 1852, những người Pháp đầu tiên đã chinh phục ngọn núi dựng đứng này chỉ với những dụng cụ leo núi hết sức thô sơ.

Nhưng tâm điểm của tất cả sự trầm trồ chính là ngọn Bạch Sơn, niềm tự hào của thiên nhiên nước Pháp. Từ đỉnh Nam Châm tôi ngắm nhìn ngọn núi cả nửa ngày mà không chán. Bạch Sơn như thể có mối tương giao với từng thời khắc của đất trời. Buổi sáng, màu tuyết trắng của núi như pha lẫn ánh xanh của ngọc bích. Buổi trưa, núi lim dim ngủ dưới bầu trời xanh lồng lộng.

Buổi chiều Bạch Sơn trở nên kỳ vĩ hơn bởi những đám mây được gió hất tung lên từ những vực sâu thăm thẳm bên dưới. Nhưng không một đám mây nào có thể đến được ngọn núi này. Nó đứng trên tất thảy, chỉ dưới bầu trời, cao ngạo như thể một mỹ nhân luôn ý thức được nhan sắc diễm lệ của mình.

Cuối cùng, dù có luyến tiếc và nấn ná chúng tôi cũng phải hạ sơn. Một ly bia hơi địa phương trong cái lạnh se se của buổi hoàng hôn miền sơn cước càng làm buổi chia tay thêm bịn rịn… Tạm biệt nhé Bạch Sơn, nàng công chúa tuyết kiêu kỳ và kiều diễm.

MẠC ĐẠI

(Theo TTO)

Amsterdam – Thủ đô Hà Lan

Giới thiệu với bạn vài thông tin về Hà Lan nói chung và Amsterdam (thủ đô Hà Lan) nói riêng. Trước hết mời bạn đọc thông tin ngắn gọn sau (trích từ Wikipedia tiếng Việt) về Hà Lan, xứ sở của cối xay gió và hoa tulip.
Amsterdam là thủ đô chính thức của Hà Lan, nằm trên các bờ vịnh IJ và sông Amstel. Thành phố được thành lập vào thế kỷ 12 từ một làng chài nhỏ bên bờ sông Amstel. Ngày nay, đây là thành phố lớn nhất Hà Lan, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Hà Lan với dân số 743.068 người (thời điểm ngày 1 tháng 6 năm 2006). Dân số vùng đô thị Amsterdam là 1,5 triệu người.
Amsterdam có một trong những trung tâm phố cổ lớn nhất châu Âu. Dù Amsterdam là thủ đô chính thức của Hà Lan, thành phố này chưa bao giờ (trừ một giai đoạn ngắn từ 1808 đến 1810) là nơi đóng đô của triều đình, đặt trụ sở của Chính phủ hay trụ sở Quốc hội Hà Lan. Các cơ quan này đóng ở Den Haag. Amsterdam là thành phố lớn nhất của tỉnh Bắc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Noord-Holland), tỉnh có thủ phủ là Haarlem.

Hà Lan nhìn từ trên máy bay, tháng 2 năm 2002, tớ chụp đó :)

Hà Lan nhìn từ trên máy bay, tháng 2 năm 2002, tớ chụp đó 🙂

Hà Lan nổi tiếng về các con kênh đào và đường nhân tạo trên biển

Hà Lan nổi tiếng về các con kênh đào và đường nhân tạo trên biển

Nét đặc trưng của Amsterdam là những dãy phố cổ kính có kiến trúc giống nhau và kênh đào ở ngay cạnh nhà

Nét đặc trưng của Amsterdam là những dãy phố cổ kính có kiến trúc giống nhau và kênh đào ở ngay cạnh nhà

(còn tiếp)

Đôi nét về Thái Lan

Thái Lan ở gần ta, miễn visa, nên chắc nhiều bạn cũng đã đến Thái Lan? Giờ việc đi lại đã thuận tiện và rẻ hơn nhiều.
Trong bài này tôi muốn chia sẻ một số thông tin và hình ảnh về Thái Lan mà tôi đã chụp được. Đầu tiên là Baiyoke, tòa nhà 85 tầng, cao nhất Bangkok, lên trên đỉnh bạn sẽ nhìn thấy toàn cảnh Bangkok. Phí lên đỉnh khoảng 200 bath, tương đương 100.000 đồng VN.

Baiyoke - tòa nhà cao nhất Bangkok với 85 tầng

Baiyoke – tòa nhà cao nhất Bangkok với 85 tầng

Thông tin thêm về Baiyoke:
Tháp Baiyoke II tọa lạc ở đường Raprarop ở quận Ratchathewi của Bangkok, Thái Lan, là tòa nhà cao nhất Thái Lan. Tháp này có Khách sạn Baiyoke Sky, khách sạn cao nhất ở Đông Nam Á và là cấu trúc khách sạn cao thứ ba thế giới với 673 phòng. Tòa tháp cao 309 m, hay cao 328 m nếu tính cả cột trên nóc tháp. Tòa nhà có 85 tầng, có một đài quan sát ở tầng 77 và một bàn xoay 360 độ trên tầng 84. Việc xây dựng tháp hoàn thành năm 1997, với một ăng ten thêm vào năm 1999.
(còn tiếp)