Văn hóa tham quan

Vừa qua, tôi cùng một người bạn mua hai vé vào tham quan khu di tích dinh Độc Lập (TP.HCM). Chúng tôi ghép cùng mọi người thành một đoàn để hướng dẫn viên đưa đi tham quan, giới thiệu về lịch sử và kiến trúc dinh Độc Lập.

Đoàn chúng tôi bắt đầu tham quan các tầng của khu di tích. Tại mỗi nơi cô hướng dẫn viên đều giới thiệu cho chúng tôi chi tiết từng đặc điểm các căn phòng, hiện vật…Trong lúc nhiều du khách trong và ngoài nước chăm chú lắng nghe từng lời giới thiệu của hướng dẫn viên thì một số thanh niên trong đoàn có những hành động và lời phát ngôn thật phản cảm. Trong lúc đoàn tham quan di chuyển từ lầu hai lên lầu ba, một nhóm thanh niên nói chuyện khá lớn tiếng khiến hướng dẫn viên phải nhắc nhở.

Khi mọi người đang xem bức tranh vẽ chị em Thúy Kiều, một thanh niên thốt lên: “Mấy người ơi, một vẻ đẹp nghiêng thùng đổ nước, có vậy mà cũng ngợi ca, nhìn giống mấy em ấy…”. Mặc dù khách nước ngoài không biết tiếng Việt để hiểu người thanh niên này nói gì, nhưng họ tỏ ra rất ngạc nhiên trước kiểu ứng xử như vậy.

Sau đó đoàn chúng tôi xuống tham quan tầng hầm, nơi có rất nhiều hiện vật. Mặc dù trước mỗi hiện vật đều đặt bảng lưu ý: “Không sờ vào hiện vật”, nhưng một số thanh niên đã nhanh chân di chuyển đến các phòng nhỏ rồi một người canh, một người sờ vào hiện vật với các động tác khác nhau. Họ còn sờ vào hiện vật rồi làm dáng để chụp hình.

Một lần nữa cô hướng dẫn viên phải lên tiếng nhắc nhở: “Các anh không thấy dòng chữ ghi trước mỗi hiện vật sao? Các anh làm thế khách nước ngoài nhìn vào không hay đâu!”. Khi được hướng dẫn viên nhắc nhở, một thanh niên trong nhóm nói trên còn cãi lại: “Làm gì mà ghê vậy, ngồi có tí mất gì đâu, mấy thằng Tây nó thấy thì sao, làm được gì nhau”. Vừa nói anh ta vừa bước đi thật nhanh và lầm bầm những tiếng chửi tục lí nhí trong họng.

Chưa hết, một số khách tham quan sau khi dùng giấy vệ sinh đã vứt vào các ngõ, góc trong tầng hầm, bên ngoài khuôn viên khu di tích hết sức tùy tiện. Một số du khách còn trèo lên máy bay, xe tăng để chụp ảnh…

Chuyến tham quan dinh Độc Lập hôm đó tôi học được rất nhiều điều, nhưng ra về tôi không thấy vui vì dân mình còn nhiều người thiếu ý thức, không có văn hóa tham quan, không ý thức bảo vệ di tích.

Ý Nhạc (Tuoitre.com.vn)

Hãy cảm ơn

Hãy cảm ơn vì bạn chưa có tất cả những thứ bạn muốn. Vì nếu bạn có rồi thì bạn còn có gì để trông chờ và hy vọng nữa đâu.

Hãy cảm ơn vì còn nhiều điều bạn chưa biết. Vì nếu bạn biết hết rồi thì bạn chẳng còn gì để học hỏi nữa sao?

Hãy cảm ơn những lúc khó khăn. Vì nếu không có một lúc khó khăn thì liệu bạn có trưởng thành được không?

Hãy cảm ơn vì bạn còn có những nhược điểm. Vì nếu không còn nhược điểm gì thì bạn sẽ chẳng còn cơ hội để tiến bộ, để cải thiện bản thân.

Hãy cảm ơn những thử thách. Vì nếu không có thử thách nào thì liệu cái gì có thể xây dựng nên sức mạnh và cá tính của bạn?

Hãy cảm ơn những lỗi lầm bạn đã có. Vì nếu bạn không có lỗi lầm gì thì cái gì sẽ dạy cho bạn những bài học đáng giá như thế đây?

Hãy cảm ơn những khi bạn mệt mỏi. Vì nếu bạn không khi nào mệt mỏi tức là bạn không làm việc gì hay sao?

Thật là dễ nếu cảm ơn những thứ tốt đẹp, nhưng cuộc sống bao giờ cũng tạo cơ hội mới cho mọi người cảm ơn cả những thứ chưa hoàn hảo nữa. Suy nghĩ luôn có thể chuyển tiêu cực thành tích cực. Nếu bạn biết cách biết ơn những thứ rắc rối của bạn thì chúng có thể giúp ích nhiều cho bạn đấy!

(sưu tầm)

Đọc truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng (2)

Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu.
Gió vẫn to, vù vù gầm thét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy quanh như thác.
Lạc ngước mắt nhìn trời; da trời một màu đen sẫm.
Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu phần phật như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy ra một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan, Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại cái gút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền hỏi:
— Mình định đi đâu?
Thức trừng mắt nhìn vợ, cất tiếng gắt:
— Sao không ở nhà với con?
Lạc sợ hãi ấp úng:
— Con… nó ngủ.
— Nhưng mình ra đây làm gì?
— Nhưng mình định đem thuyền đi đâu?
— Mình hỏi làm gì? Đi về!
Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:
— Sao mình khóc ?
— Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi.
Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:
— Mình không đi được… nguy hiểm lắm.
Lạc cười:
— Nguy hiểm thời nguy hiểm cả… Nhưng không sợ, em biết bơi.
— Được !
Tiếng ‘được’ lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời mỗi lúc một đen. Thức hỏi:
— Mình sợ?
— Không.
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.
Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ thì trời đổ mưa… Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.
Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu.
Hai người cố bơi nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi…
Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
— Trời ơi!
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp…
Chồng hỏi vợ:
— Mình liệu bơi được đến bờ không?
Vợ quả quyết:
— Được!
— Theo dòng nước mà bơi… Gối lên sóng!
— Được! Mặc em!
Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
— Thế nào?
— Được! Mặc em!
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh, nàng mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
— Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau, chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh ta rã rời. Vợ khẽ hỏi:
— Có bơi được nữa không?
— Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
— Em buông ra cho mình vào nhé?
Chồng cười:
— Không! Cùng chết cả.
Một lát — một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày — chồng lại hỏi:
— Lạc ơi? Liệu có cố bơi được nữa không?
— Không?… Sao!
— Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc rung khẽ nói:
— Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé! … Không? … Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.

Đèn điện sáng rực xuống bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì. lòng thương con.
Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.

Hết.

Đọc truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng

Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ đờ, những thân cây, những cành khô từ rừng về nổi lềnh bềnh, như một dãy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thật nhanh tới một nơi không bờ không bến.
Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ vẻ thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:
— Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân trời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!
Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
— Mình thổi cơm chưa ?
Vợ buồn rầu đáp:
— … Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.
Hai vợ chồng lại im lặng nhin nhau… Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.
Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
— Liều!
Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
— Mình đã đến nhà bà K. chưa?
— …
— Thế nào?
— Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
— Thế à?
Hai chữ ‘thế à’ rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
— Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
— … có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
— Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
— Vậy thì tôi về… Nhưng mình cũng về chứ đứng đây làm gì?
— Được, cứ về trước đi, tôi về sau.
Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ.

Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đang cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng.
Cái Nhớn vỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:
— Mày đi tìm bu về để cho em nó bú.
Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu.
Chị phó Thức vội chạy lại ẵm con, nói nựng:
— Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc.
Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước.
Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:
— Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú!
Một lúc thằng bé vì mệt quá, lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phác của chị nhà quê giản dị,
không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ ra một cách rành mạch, là chưa bao giờ được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có.
Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm…
Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau.
Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít, công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.
Bỗng mùa nước mặn năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi.
Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to.
Thì hôm qua, cái ăn, trời bắt đầu đưa đến cho gia đình bác.
Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón rén bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì.
(còn phần 2)

Kiên trì, khổ luyện, đam mê, khát vọng… làm nên Marie Curie (2)

Chất Radi – Cuộc “truy tìm” không mệt mỏi

Cuối năm 1987, Marie vừa mới ở cữ xong đã trở lại làm việc. Tuy phải đảm trách công việc của một người vợ trông nom nhà cửa, chăm sóc con nhỏ… nhưng bằng nghị lực và sự cố gắng phi thường, Marie đã tìm ra chất Radi, phát minh quan trọng bậc nhất trong khoa học hiện đại.

Với tính ham học hỏi và tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề, bà đã đọc đi đọc lại công trình nghiên cứu của nhà vật lý học Hăng-ri Bếch-cơ-ren công bố năm 1896. Trong công trình đó, ông đã nghiên cứu chất Urani và phát hiện ra rằng các muối urani tự toả ra, không cần tác dụng của ánh sáng.

Để rồi, hàng loạt những dấu hỏi hiện lên trong đầu nhà nữ bác học này. Bà tò mò, không biết đâu là nguyên nhân của hiện tượng phát quang ấy; năng lượng ấy ở đâu mà ra… Và chính từ đây, bà bắt đầu dấn thân vào một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm và gian lao!

Điều làm tôi khâm phục chính là tinh thần không ngại khó, ngại khổ của Marie. Hoàn cảnh có khổ ải như thế nào cũng không thể ngăn nổi bà trên con đường chinh phục cái mới.

Khi bắt đầu con đường tìm kiếm lời lí giải cho những thắc mắc, bà đã gặp bề bộn những khó khăn. Nhờ vảo các mối quan hệ, nhưng Marie cũng không thể tìm cho mình một phòng thí nghiệm ưng ý.

Cuối cùng, ông hiệu trưởng trường đại học Sorbonne cũng đồng ý để bà sử dụng một gian nhà kho của trường làm nơi thí nghiệm. Đó là một gian phòng bề bộn, ám khói, vừa dùng làm kho chứa hàng, vừa dùng để trang bị kĩ thuật.

Dù vậy, nữ bác học không hề nản lòng. Dù trang thiết bị thiếu thốn và môi trường làm việc chật hẹp, nhưng với chuỗi ngày dài đắm say với những thí nghiệm, cuối cùng bà cũng đã có được những kết quả hết sức khả quan.

Trong bài tường trình khoa học đăng báo Khoa học ngày 12/4/1898, bà viết:”Hai quặng Urani: ôxít Urani và phốt-phát Urani có hoạt tính hơn Urani nhiều, hiện tượng ấy rất đáng chú ý làm cho tin tưởng rằng các quặng ấy có thể chứa đựng một chất có hoạt tính hơn Urani nhiều”.

Và bà đã tự chứng minh rằng chất ấy nhất định phải có. Nó phải là một chất hoàn toàn mới.

Từ đây, khi nghiên cứu đã có kết quả ban đầu, chồng bà, ông Pierre, một nhà vật lý học nổi tiếng đã gác mọi công việc lại để dốc sức cùng với vợ mình tìm ra chất mới.

Hai đôi bàn tay, hai khối óc đã làm cho sức làm việc tăng lên gấp đôi. Và đôi vợ chồng phi thường này đã khiến giới khoa học phải sửng sốt khi công bố báo cáo tiếp theo vào ngày 26/12/1898.

Trong báo cáo, họ viết: ” …Những lý do mà chúng tôi vừa kể trên cho phép chúng tôi tin rằng chất phóng xạ mới chứa đựng một nguyên tố mới, mà chúng tôi dự định đặt tên là Radi…”

Nhưng cho đến thời điểm đó, chưa một nhà khoa học nào được trông thấy Radi cả. Chưa ai biết trọng lượng nguyên tử của chất Radi. Giới các nhà hoá học, họ nói rằng họ chưa tin có sự tồn tại của chất ấy. Trừ khi vợ chồng bà Marie chỉ cho họ thấy chất Radi trước mắt họ.

Và thế là, ông bà Marie lại phải cật lực làm việc suốt hơn 4 năm nữa.

1/10 Gram Radi nguyên chất… từ nhà kho

Gác sang một bên hạnh phúc gia đình, bà Marie cùng chồng lại miệt mài với hàng ngàn thí nghiệm trong gian phòng chật hẹp, ẩm ướt trước kia. Hoàn cảnh bắt buộc họ phải như thế.

Về sau, bà kể lại: “Chúng tôi không có tiền, không có phòng thí nghiệm và không có người giúp việc để làm cái công việc quan trọng và khó khăn ấy… Tuy nhiên, chính ở trong cái nhà kho cũ kỹ và nghèo nàn ấy mà những năm trời tốt đẹp nhất và hạnh phúc nhất trong cuộc sống của chúng tôi đã qua đi hoàn toàn dành cho công việc.

Nhiều khi tôi nấu ăn tại chỗ để khỏi phải ngừng một vài động tác cực kỳ quan trọng. Nhiều khi tôi dành cả ngày để quấy một chất đang sôi, bằng một cây gậy sắt cao ngang tầm người, đến đêm tôi mệt rã người ra…”

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, 1 năm, 2 năm… rồi 3 năm, nhưng bà và chồng không hề nản lòng. Chất Radi càng bí mật, càng tìm lại càng lặn mất tăm, lại càng cuốn hút họ lao vào làm việc cật lực hơn.

Khi công việc đã tiến gần tới đích, chồng bà hình như không còn đủ kiên nhẫn. Ông khuyên Marie tạm dừng ở đây.

Nhưng làm sao có thể tạm dừng? Bản tính tìm hiểu đến cùng vẫn mãnh liệt cháy trong Marie, bà quyết tâm sẽ đi đến cùng dù con đường phía trước có gian lao, lâu dài tới đâu.

Trời không phụ lòng người, mất gần 4 năm sau ngày bà Marie cùng chồng báo cáo sự có mặt của chất Radi, Mari eđã chiến thắng trong cuộc phiêu lưu đầy khổ ải ấy. Bà đã làm ra được 1/10 gram Radi nguyên chất, và bà đã tính ra trọng lượng nguyên tử của chất mới đó là 225.

Từ đây, các nhà khoa học bấy lâu nay vẫn nghi ngờ nghiên cứu của Marie đã cúi đầu trước sự cố gắng phi thường của một phụ nữ. Chất Radi chính thức được xác nhận sự tồn tại.

Mới 38 tuổi đã goá chồng, bà phải nuôi 2 con nhỏ và chăm sóc bố chồng 80 tuổi. Dù đau khổ vì cảnh mẹ goá con côi, nhưng bà đã vượt qua tất cả để đảm nhận trọng trách thay chồng một cách xuất sắc. Đồng thời tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học, không ngừng phát triển tri thức của mình.

“Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…” (Nikolai Alexeevich Ostrovsky – Thép đã tôi thế đấy). Marie Curie chính là một người như thế, không bao giờ chấp nhận sống hoài, sống phí. Và bà viết lên những trang sử huy hoàng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phụng sự nhân loại.

Nhân loại sẽ mãi ghi nhớ công lao của bà – một nữ bác học lừng danh!

Nguyễn Mạnh Quang

Kiên trì, khổ luyện, đam mê, khát vọng… làm nên Marie Curie (1)

Sinh trưởng tại Balan, trong thời kì xã hội phong kiến phụ thuộc, nhưng Marie Curie không cam chịu cảnh sống bị kìm hãm, trói buộc, thân phận thấp hèn, đã ra sức học tập, hướng tuổi trẻ vào lý tưởng cao cả, ước mơ trở thành một nhà hoá học, một nhà vật lý học lớn của nhân loại.

Maria Skłodowska-Curie (sinh ngày 7/11/1867 – mất ngày 4/7/1934) là người Pháp gốc Ba Lan. Tên tuổi của bà chói sáng trong lịch sử vật lý học và hoá học thế giới với hai lần nhận giải Nobel (Vật lý năm 1903 và Hóa học năm 1911).

Cuộc đời bà là những trang đầy mồ hôi, nước mắt và vinh quang. Nhớ đến bà, không chỉ riêng tôi, mà biết bao người trên thế giới này phải ngưỡng bởi nghị lực phi thường và chí hướng của một người phụ nữ đam mê khoa học.

17 tuổi – làm nghề gõ đầu trẻ

Ngày 12/6/1883, tốt nghiệp trung học với thứ hạng nhất, Marie (lúc đó là Mania) từ giã mái trường trung học ở đại lộ Cra-cô-vi, khoác tay bố, ông rất tự hào về thành tích học tập của con gái.

Thời kì này, nước Balan chịu ảnh hưởng to lớn của Nga Sa hoàng nên thẳng tay đàn áp những phần tử cách mạng ái quốc, đày ải, cầm tù họ. Trong hoàn cảnh ấy, cô bé Marie chỉ mới 17 tuổi đã cùng với chị gái Brô-ni-ca tham gia dạy trong trường “đại học di động”.

Những lớp học bí mật được mở, tránh sự truy quét của bọn mật thám. Marie nhận nhiệm vụ đọc sách cho những nữ công nhân ở một xưởng may.

Khi xong hết những giờ ôn tập cho các học trò ở ngoài phố, những bài học cho các công nhân ở các xưởng và những giờ học lén lút về giải phẫu học ở trường “đại học di động”, thì cô đóng cửa ngồi trong buồng, đọc và viết.

Sau những tháng ngày hoà mình vào những buổi dậy ấy, Marie đã nghĩ đến sẽ sang Paris du học. Nhưng tiền đâu mà đi? Sang đó mình sẽ sống ra sao? Tất cả làm cô đắn đo. Nhưng mình sẽ có tiền để đi. Mình sẽ làm gia sư để kiếm tiền. Nhất định mình sẽ làm được.

Một buổi sáng tháng 9/1885, Marie tới trung tâm giới thiệu việc làm. Gặp bà giám đốc, cô bé đã gắng ăn mặc để già trước tuổi, nhưng vẫn không sao che giấu nổi vẻ thơ ngây của cô gái sắp 18 tuổi:

– Cô cần gì?

– Tôi tìm 1 chỗ dạy học tư

– Cô thạo tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ba-lan và tiếng Anh phải không?

– Thưa bà vâng. Tôi vừa mới ở trường trung học ra với huy chương vàng.

– Thế ý cô thế nào?

– Bốn trăm rúp một năm và bảo đảm ăn ở.

– À, thế cô bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?

– 17 tuổi.

Cô bé đỏ bừng mặt và nói tiếp với một nụ cười:

– Sắp 18 tuổi rồi.

Buổi phỏng vấn thành công ngoài mong đợi, để rồi 4 tháng sau đó, cô chính thức rời xa gia đình đi làm gia sư cho nhà ông bà D. Xduy-ki, một chủ điền ở nơi cách xa quê hàng trăm cây số.

Và Marie đã làm ở đây suốt 3 năm trời. Vẫn những thói quen như ngày nào, cô hăng say dạy cho lũ học trò nhỏ của mình những kiến thức cô có. Tranh thủ bất cứ lúc nào rảnh, Marie lại say mê đọc và nghiên cứu nhiều loại sách.

Mỗi tháng, Marie gửi cho chị Brô-ni-a 15 rúp để góp sức cùng cha nuôi chị ăn học ở Paris. Và trong huyết quản của cô gái trẻ ấy, ngọn lửa đến Paris vẫn cháy mãnh liệt.

1,3 rúp/ngày học đại học

Năm 1892, Marie đến Paris học ở trường đại học Sorbonne với số tiền có được chỉ 40 rúp/tháng. Trong khi đó, bao nhiêu thứ tiền phải chi: nào tiền nhà, tiền ăn, tiền quần áo, tiền sách vở, tiền ghi tên ở đại học… Đó là bài toán vô cùng khó giải. Nhưng bao giờ Marie cũng tìm thấy đáp số: Đó là tạo cho mình một cuộc sống khắc khổ…

Phòng trọ của cô rẻ tiền và thiếu tiện nghi. Đó là một gian buồng không có điện, không có nước và không đun nấu… chỉ có duy nhất chiếc lò sưởi giúp chống lại mùa đông giá lạnh với giá 20 quan/tháng.

Để tiết kiệm đến mức có thể, dù thời tiết có buốt giá đến mấy, Marie cũng chọn giải pháp đi bộ đến trường để khỏi phải tiêu thêm tiền đi xe buýt. Cô không cho phép mình có cảm giác rét để khỏi phải mua thêm than. Vì thế, cả mùa đông cô chỉ dùng một bao tải than.

Cô cũng hạn chế đốt đèn. Tối đến, cô sang thư viện Xanh Giơ-nơ-vi-e-vơ, ở đó có đèn sáng, ấm áp.

Cứ thế, cô gái Balan nghèo, hai tay ôm đầu, có thể làm việc cho đến 10h đêm, mãi đến khi thư viện đóng cửa.

Về nhà, cô chỉ cần đủ dầu để thắp đèn đến 2 giờ sáng, học cho đến khi mắt đỏ hoe lên vì nhọc, cô mới rời sách, lăn vào giường ngủ.

Trong sinh hoạt hàng ngày, cô không bao giờ vào cửa hàng thịt, cửa hàng ăn vì giá đắt. Cả tuần, cô chỉ ăn bánh mì phết bơ và uống nước chè. Đến nỗi, có lần cô ngất xỉu ở trên lớp.

Sống như vậy, trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, nhưng Marie vẫn say mê học tập vì sự tiến bộ của mình. Cô tự nghĩ mình có thể đọc được tất cả những cái gì mà người đời khám phá ra.

Cô theo học các lớp toán, lý, hoá. Cô dần làm quen với kỹ thuật thực hành khoa học. Có một bằng cử nhân chưa đủ, Marie quyết định thi 2 bằng, bằng cử nhân toán và bằng cử nhân vật lý.

Và ông trời đã không phụ công của người có chí: sau ba năm học tập, cô đã đỗ đầu trong kỳ thi ra trường và được cấp bằng Cử nhân Khoa học năm 1893 và năm sau, đậu thứ nhì trong kỳ thi lấy văn bằng Cử nhân Toán.

(còn tiếp)

Làm lãnh đạo chẳng sướng chút nào

Vai trò nhiệm vụ luôn đặt lãnh đạo luôn ngồi trên “ghế nóng”, bất kỳ một cơn nóng lạnh nào của thị trường đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp, ảnh hưởng thu nhập của doanh nghiệp điều đó có nghĩa là ảnh hưởng đến chén cơm manh áo của người lao động.

Ai cũng nghĩ rằng “Làm lãnh đạo sướng chết còn than thở gì nữa”, điều này chỉ đúng với những ai chưa từng biết và không biết lãnh đạo là làm gì và nghĩ gì, còn đối với những lãnh đạo chân chính luôn trăn trở và ước vọng công ty hay doanh nghiệp mình đang lãnh đạo ngày một phát triển hơn, cuộc sống của nhân viên và người lao động ngày một tốt hơn, hạnh phúc hơn, có điều kiện để đóng góp nhiều cho sự phát triển của doanh nghiệp.

Theo tôi làm lãnh đạo không hề dễ dàng chút nào, vai trò nhiệm vụ luôn đặt lãnh đạo luôn ngồi trên “ghế nóng”, bất kỳ một cơn nóng lạnh nào của thị trường đều ảnh hưởng đến doanh nghiệp, ảnh hưởng thu nhập của doanh nghiệp điều đó có nghĩa là ảnh hưởng đến chén cơm manh áo của người lao động.

Trong bài viết này tôi chỉ nói lên suy nghĩ của mình xung quanh vai trò lãnh đạo trong một tổ chức, trong một công ty, vậy người lãnh phải là người như thế nào và cần có những phẩm chất gì?

1 – Phải là người có chuyên môn

Lãnh đạo một tổ chức một doanh nghiệp phải có trình độ chuyên môn về lãnh vực mình phụ trách, đặc biệt lãnh đạo cấp phòng lại càng phải có chuyên môn cao, chúng ta không thể chỉ đạo một vấn đề mà chúng ta không nắm vững về nó, chỉ đạo chung chung để gây mất lòng tin đối với cấp dưới, nếu chúng ta không có chuyên về lãnh vực đó thì cần phải có một chuyên gia tư vấn cho chúng ta, tuy nhiên khi phải ra quyết định vấn đề liên quan đến chuyên môn đó rất khó cho người lãnh đạo.

Người lãnh đạo có nhiều dạng quyền lực khác nhau. Một số dạng quyền lực như quyền lực dựa trên vị trí được bổ nhiệm, quyền khen thưởng, trừng phạt và quyền kiểm soát thông tin. Tuy những dạng quyền lực này ít nhiều tỏ ra hữu hiệu nhưng chúng lại khiến cấp dưới cảm thấy không thoải mái và khiến người lãnh đạo trở nên độc đoán và khó gần trong mắt họ.

Quyền lực từ năng lực chuyên môn rất quan trọng đối với một người lãnh đạo. Khi chúng ta làm lãnh đạo, các thành viên trong phòng, trong công ty của chúng ta sẽ luôn cần chúng ta định hướng và dẫn dắt. Họ cần có niềm tin là chúng ta có khả năng định hướng chính xác, chỉ đạo hợp lý và điều phối hiệu quả hoạt động của nhóm để mang lại một kết quả tốt.

Tóm lại, nếu nhân viên tin tưởng vào năng lực chuyên môn của chúng ta, chúng ta sẽ dễ dàng động viên họ làm việc với hiệu quả cao nhất.

2 – Phải có tâm

Tâm ở đây là tấm lòng của người lãnh đạo đối doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp, tâm phải trong sáng, rỏ ràng, làm việc chí công vô tư, không yêu ghét tuỳ tiện, biết yêu thương và chia sẽ với cấp dưới, giúp cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ, hướng họ vào mục đích chung của doanh nghiệp,công ty, tất cả vì lợi ích tập thể, của số đông người lao động, luôn tâm niệm một điều làm việc vì màu cờ sắc áo của doanh nghiệp, hướng đến lợi ích của toàn cục, làm được như vậy thì “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

3 – Phải là người ‘đứng mũi – chịu sào’

Doanh nghiệp không phải lúc nào cũng khoẻ mạnh, có lúc cũng trái gió trở trời, những khó khăn sẽ xuất hiện, đó là lúc vai trò thuyền trưởng cực kỳ quan trọng, cấp dưới sẽ nhìn vào cách ứng xử và đối phó với khó khăn của lãnh đạo, chúng ta dám đương đầu và dám chịu trách nhiệm là điều cực kỳ quan trọng, lòng tin sẽ được thiết lập và có giá trị hơn ngàn lời nói suông, hô khẩu hiệu, cấp dưới nhìn vào cách mà lãnh đạo ứng phó với khó khăn với tinh thần đầy trách nhiệm và giải toả được khó khăn một cách tự tin và khéo léo sẽ để lại ấn tương sâu sắc trong lòng nhân viên, tạo được lòng tin tuyệt đối vào lãnh đạo. Có thể lãnh đạo không phải lúc nào cũng có thể giải quyết tốt đẹp những khó khăn gặp phải, nhưng cái cách mà lãnh đạo đem ra hành xử và đương đầu khi gặp khó khăn đó mới là điều quan trọng, chịu trách nhiệm, không đổ lỗi cho cấp dưới, luôn thể hiện là “người đứng mũi chịu sào”.

4 – Phải luôn công bằng khi đánh giá khen thưởng cấp dưới

Thông thường cấp dưới luôn luôn mong muốn lãnh đạo công tâm và công bằng trong việc đánh giá sự đóng góp của mình, việc đánh giá đúng đắn sự đóng góp của cấp đưới và có khen thưởng kịp thời ngày càng được nhà lãnh đạo quan tâm, nhất là trong các doanh nghiệp cổ phần, công ty nước ngoài và khối tư nhân, vì việc đánh giá công bằng sẽ tạo nên động lực làm việc, tăng cường đoàn kết và giử được người tài, giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển và tất nhiên lợi nhuận sẽ tăng, còn ngược lại nếu xem việc đánh giá, khen thưởng cán bộ là việc làm cho có hoặc khen thưởng không đúng người, đúng việc, chỉ khen thưởng cho ai biết “vâng lời” thì sẽ có tác dụng ngược lại, sẽ gây ra sự bất bình ngấm ngầm, người giỏi lẳng lặng bỏ đi, người không bỏ đi thì có thái độ bằng mặt không bằng lòng, gây ra nhiều hậu quả xấu, các chỉ đạo điều hành của cấp trên sẽ bị ách tắc và thực hiện nữa vời, vì họ nghĩ làm nhiều, làm giỏi chưa chắc đã được khen thưởng, vì lãnh đạo đã vô tình khen thưởng không đúng đối tượng làm cho cấp dưới mất lòng tin.

Khổng Tử nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên. Đã công bằng thì không nghèo, đã hoà mục thì không thiếu, lòng dân đã yên thì không sợ nghiêng đổ”.

5 – Phải trung thực và biết giữ lời hứa

Không những trung thực với cấp trên mà còn phải trung thực với cấp dưới, phải giữ tâm trong sạch, lời nói đi đôi với việc làm, không được hứa suông, điều quan trọng là phải biết giử lời hứa, không nên đem quyền lực ra để đưa đẩy với cấp dưới và làm thước đo cho lòng trung thành của cấp dưới, trung thực với cấp trên thể hiện ở chỗ hết lòng vì công việc được giao, thực hiện các chủ trương, chỉ đạo của cấp trên một cách tuân thủ nhất, tuyệt đối nhất và vì lợi ích chung, không vì lợi ích cục bộ, là nhà lãnh đạo sự trung thực còn thể hiện ở chổ nói và làm, không hô khẩu hiệu một đường mà làm một nẽo, kêu gọi cấp dưới tiết kiệm trong khi lãnh đạo lại chi xài phung phí, kêu gọi nhân viên đi làm đúng giờ bản thân lãnh đạo lại đi trể về sớm, hô hào phải công bằng mà bản thân lãnh đạo lại không công bằng trong cách hành xử hàng ngày. “Tính trung thực là một trong những giá trị cốt lõi của Nhà lãnh đạo” .

6 – Phải có lòng tin và sự tôn trọng đối với cấp dưới

Cấp dưới là người giúp cho lãnh đạo thực các ý tưởng, các chính sách, chủ trương của lãnh đạo, là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm và bán sản phẩm đó đến tay khách hàng, nếu cấp dưới không được tôn trọng và tin tưởng sẽ làm cho guồng máy hoạt động của doanh nghiệp bị hỏng hóc và người thiệt hại đầu tiên là người lãnh đạo doanh nghiệp đó, thông thường mọi người lao động dù là bảo vệ hay tạp vụ đều muốn được tôn trọng, mọi sự xúc phạm đến lòng tự trọng của người khác đều không nên làm, là lãnh đạo đây là điều cần phải tránh nhất, một hành động một lời nói thiếu tôn trọng và thiếu lòng tin đối với cấp dưới sẽ là một tai hoạ cho doanh nghiệp, lòng dân ly tán, bằng mặt không bằng lòng, tất nhiên khi không được tôn trọng và không được tin tưởng thì ngược lại nhà lãnh đạo cũng mất đi sự tôn trọng của nhân viên cấp dưới.

Lý Công Nha – KTTC