Hãy cảm ơn

Hãy cảm ơn vì bạn chưa có tất cả những thứ bạn muốn. Vì nếu bạn có rồi thì bạn còn có gì để trông chờ và hy vọng nữa đâu.

Hãy cảm ơn vì còn nhiều điều bạn chưa biết. Vì nếu bạn biết hết rồi thì bạn chẳng còn gì để học hỏi nữa sao?

Hãy cảm ơn những lúc khó khăn. Vì nếu không có một lúc khó khăn thì liệu bạn có trưởng thành được không?

Hãy cảm ơn vì bạn còn có những nhược điểm. Vì nếu không còn nhược điểm gì thì bạn sẽ chẳng còn cơ hội để tiến bộ, để cải thiện bản thân.

Hãy cảm ơn những thử thách. Vì nếu không có thử thách nào thì liệu cái gì có thể xây dựng nên sức mạnh và cá tính của bạn?

Hãy cảm ơn những lỗi lầm bạn đã có. Vì nếu bạn không có lỗi lầm gì thì cái gì sẽ dạy cho bạn những bài học đáng giá như thế đây?

Hãy cảm ơn những khi bạn mệt mỏi. Vì nếu bạn không khi nào mệt mỏi tức là bạn không làm việc gì hay sao?

Thật là dễ nếu cảm ơn những thứ tốt đẹp, nhưng cuộc sống bao giờ cũng tạo cơ hội mới cho mọi người cảm ơn cả những thứ chưa hoàn hảo nữa. Suy nghĩ luôn có thể chuyển tiêu cực thành tích cực. Nếu bạn biết cách biết ơn những thứ rắc rối của bạn thì chúng có thể giúp ích nhiều cho bạn đấy!

(sưu tầm)

Advertisements

Đọc truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng (2)

Ra tới đê, Lạc không thấy chồng đâu.
Gió vẫn to, vù vù gầm thét dữ dội và nước vẫn mạnh, réo ầm ầm chảy quanh như thác.
Lạc ngước mắt nhìn trời; da trời một màu đen sẫm.
Chị đứng ngẫm nghĩ, tà áo bay kêu phần phật như tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ. Bỗng trong lòng nẩy ra một ý tưởng, khiến chị hoảng hốt chạy vụt xuống phía đê bên sông. Tới chỗ buộc thuyền, một chiếc thuyền nan, Lạc thấy chồng đương ra sức níu lại cái gút lạt. Chị yên lặng đăm đăm đứng ngắm đợi khi chồng làm xong công việc, mới bước vào thuyền hỏi:
— Mình định đi đâu?
Thức trừng mắt nhìn vợ, cất tiếng gắt:
— Sao không ở nhà với con?
Lạc sợ hãi ấp úng:
— Con… nó ngủ.
— Nhưng mình ra đây làm gì?
— Nhưng mình định đem thuyền đi đâu?
— Mình hỏi làm gì? Đi về!
Lạc bưng mặt khóc. Thức cảm động:
— Sao mình khóc ?
— Vì anh định đi vớt củi một mình, không cho tôi đi.
Thức ngẫm nghĩ, nhìn trời, nhìn nước, rồi bảo vợ:
— Mình không đi được… nguy hiểm lắm.
Lạc cười:
— Nguy hiểm thời nguy hiểm cả… Nhưng không sợ, em biết bơi.
— Được !
Tiếng ‘được’ lạnh lùng, Lạc nghe rùng mình. Gió thổi vẫn mạnh, nước chảy vẫn dữ, trời mỗi lúc một đen. Thức hỏi:
— Mình sợ?
— Không.
Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi. Cố chống lại sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son.
Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng. Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi. Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ thì trời đổ mưa… Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở.
Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu.
Hai người cố bơi nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi…
Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:
— Trời ơi!
Thuyền đã chìm. Những khúc củi vớt được đã nhập bọn cũ và lạnh lùng trôi đi, lôi theo cả chiếc thuyền nan lật sấp…
Chồng hỏi vợ:
— Mình liệu bơi được đến bờ không?
Vợ quả quyết:
— Được!
— Theo dòng nước mà bơi… Gối lên sóng!
— Được! Mặc em!
Mưa vẫn to, sấm chớp vẫn dữ. Hai người tưởng mình sống trong vực sâu thẳm. Một lúc sau, Thức thấy vợ đã đuối sức, liền bơi lại gần hỏi:
— Thế nào?
— Được! Mặc em!
Vợ vừa nói buông lời thì cái đầu chìm lỉm. Cố hết sức bình sinh, nàng mới ngoi lên được mặt nước. Chồng vội vàng đến cứu. Rồi một tay xốc vợ một tay bơi. Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng. Chồng cũng mỉm cười. Một lúc, Thức kêu:
— Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa.
Mấy phút sau, chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh ta rã rời. Vợ khẽ hỏi:
— Có bơi được nữa không?
— Không biết. Nhưng một mình thì chắc được.
— Em buông ra cho mình vào nhé?
Chồng cười:
— Không! Cùng chết cả.
Một lát — một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày — chồng lại hỏi:
— Lạc ơi? Liệu có cố bơi được nữa không?
— Không?… Sao!
— Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng Lạc rung khẽ nói:
— Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé! … Không? … Anh phải sống!
Thức bỗng nhẹ hẳn đi. Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa. Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để mình xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ.

Đèn điện sáng rực xuống bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đứa con trai ngồi khóc. Hai đứa con gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối cùng linh hồn kẻ đã hy sinh vì. lòng thương con.
Trong cảnh bao la, nước sông vẫn lãnh đạm chảy xuôi dòng.

Hết.

Đọc truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng

Trên đê Yên Phụ một buổi chiều mùa hạ. Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sông đi. Theo dòng nước đỏ lờ đờ, những thân cây, những cành khô từ rừng về nổi lềnh bềnh, như một dãy thuyền nhỏ liên tiếp chạy thật nhanh tới một nơi không bờ không bến.
Đứng trên đê, bác phó nề Thức đưa mắt trông theo những khúc gỗ ấy tỏ vẻ thèm muốn, rồi quay lại, đăm đăm nhìn vợ, hỏi thầm ý kiến. Người vợ, ngắm sông, ngắm trời, lắc đầu thở dài, nói:
— Gió to quá, mà đám mây đen kia ở chân trời đùn lên mau lắm. Mưa đến nơi mất, mình ạ!
Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
— Mình thổi cơm chưa ?
Vợ buồn rầu đáp:
— … Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.
Hai vợ chồng lại im lặng nhin nhau… Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.
Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
— Liều!
Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
— Mình đã đến nhà bà K. chưa?
— …
— Thế nào?
— Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
— Thế à?
Hai chữ ‘thế à’ rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
— Này! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
— … có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
— Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó.
— Vậy thì tôi về… Nhưng mình cũng về chứ đứng đây làm gì?
— Được, cứ về trước đi, tôi về sau.
Vợ Thức ngoan ngoãn, về làng Yên Phụ.

Tới nhà, gian nhà lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm, chị phó Thức đứng ở ngưỡng cửa, ngắm cái cảnh nghèo khó mà đau lòng. Lúc nhúc trên phản gỗ không chiếu, ba đứa con đang cùng khóc lóc gọi bu. Thằng Bò kêu gào đòi bú. Từ trưa đến giờ, nó chưa được tí gì vào bụng.
Cái Nhớn vỗ em không nín cũng mếu máo, luôn mồm bảo cái Bé:
— Mày đi tìm bu về để cho em nó bú.
Nhưng cái Bé không chịu đi, nằm lăn ra phản vừa chửi vừa kêu.
Chị phó Thức vội chạy lại ẵm con, nói nựng:
— Nao ôi! Tôi đi mãi để con tôi đói, con tôi khóc.
Rồi chị ngồi xuống phản cho con bú. Song thằng Bò, ý chừng bú mãi không thấy sữa, nên mồm nó lại nhả vú mẹ nó ra mà gào khóc to hơn trước.
Chị Thức thở dài, hai giọt lệ long lanh trong cặp mắt đen quầng. Chị đứng dậy, vừa đi vừa hát ru con. Rồi lại nói nựng:
— Nao ôi! Tôi chả có gì ăn, hết cả sữa cho con tôi bú!
Một lúc thằng bé vì mệt quá, lặng thiếp đi. Hai đứa chị, người mẹ đã đuổi ra đường chơi để được yên tĩnh cho em chúng nó ngủ. Chị Thức lẳng lặng ngồi ôn lại cuộc đời đã qua. Bộ óc chất phác của chị nhà quê giản dị,
không từng biết tưởng tượng, không từng biết xếp đặt trí nhớ cho có thứ tự. Những điều chị nhớ lại chen chúc nhau hỗn độn hiện ra như những hình người vật trên một tấm ảnh chụp. Một điều chắc chắn, chị ta nhớ ra một cách rành mạch, là chưa bao giờ được hưởng chút sung sướng thư nhàn như những người giàu có.
Năm mười hai, mười ba, cái đĩ Lạc, tên tục chị phó Thức, xuất thân làm phu hồ. Cái đời chị, nào có chi lạ. Ngày lại ngày, tháng lại tháng, năm lại năm…
Năm chị mười bảy, một lần cùng anh phó Thức cùng làm một nơi, chị làm phu hồ, anh phó ngõa. Câu nói đùa đi, câu nói đùa lại, rồi hai người yêu nhau, rồi hai người lấy nhau.
Năm năm ròng trong gian nhà lụp sụp ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ, không có một sự gì êm đềm đáng ghi chép và hai cái đời trống rỗng của hai con người khốn nạn, càng khốn nạn khi họ đã đẻ luôn ba năm ba đứa con. Lại thêm gặp buổi khó khăn, việc ít, công hạ, khiến hai vợ chồng loay hoay, chật vật suốt ngày này sang ngày khác vẫn không đủ nuôi thân, nuôi con.
Bỗng mùa nước mặn năm ngoái, bác phó Thức nghĩ ra được một cách sinh nhai mới. Bác vay tiền mua một chiếc thuyền nan, rồi hai vợ chồng ngày ngày chở ra giữa dòng sông vớt củi. Hai tháng sau, bác trả xong nợ, lại kiếm được tiền ăn tiêu thừa thãi.
Vì thế năm nay túng đói, vợ chồng bác chỉ mong chóng tới ngày có nước to.
Thì hôm qua, cái ăn, trời bắt đầu đưa đến cho gia đình bác.
Nghĩ đến đó, Lạc mỉm cười, se sẽ đặt con nằm yên trên cái tã, rồi rón rén bước ra ngoài, lên đê, hình như quả quyết làm một việc gì.
(còn phần 2)

Kiên trì, khổ luyện, đam mê, khát vọng… làm nên Marie Curie (2)

Chất Radi – Cuộc “truy tìm” không mệt mỏi

Cuối năm 1987, Marie vừa mới ở cữ xong đã trở lại làm việc. Tuy phải đảm trách công việc của một người vợ trông nom nhà cửa, chăm sóc con nhỏ… nhưng bằng nghị lực và sự cố gắng phi thường, Marie đã tìm ra chất Radi, phát minh quan trọng bậc nhất trong khoa học hiện đại.

Với tính ham học hỏi và tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề, bà đã đọc đi đọc lại công trình nghiên cứu của nhà vật lý học Hăng-ri Bếch-cơ-ren công bố năm 1896. Trong công trình đó, ông đã nghiên cứu chất Urani và phát hiện ra rằng các muối urani tự toả ra, không cần tác dụng của ánh sáng.

Để rồi, hàng loạt những dấu hỏi hiện lên trong đầu nhà nữ bác học này. Bà tò mò, không biết đâu là nguyên nhân của hiện tượng phát quang ấy; năng lượng ấy ở đâu mà ra… Và chính từ đây, bà bắt đầu dấn thân vào một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm và gian lao!

Điều làm tôi khâm phục chính là tinh thần không ngại khó, ngại khổ của Marie. Hoàn cảnh có khổ ải như thế nào cũng không thể ngăn nổi bà trên con đường chinh phục cái mới.

Khi bắt đầu con đường tìm kiếm lời lí giải cho những thắc mắc, bà đã gặp bề bộn những khó khăn. Nhờ vảo các mối quan hệ, nhưng Marie cũng không thể tìm cho mình một phòng thí nghiệm ưng ý.

Cuối cùng, ông hiệu trưởng trường đại học Sorbonne cũng đồng ý để bà sử dụng một gian nhà kho của trường làm nơi thí nghiệm. Đó là một gian phòng bề bộn, ám khói, vừa dùng làm kho chứa hàng, vừa dùng để trang bị kĩ thuật.

Dù vậy, nữ bác học không hề nản lòng. Dù trang thiết bị thiếu thốn và môi trường làm việc chật hẹp, nhưng với chuỗi ngày dài đắm say với những thí nghiệm, cuối cùng bà cũng đã có được những kết quả hết sức khả quan.

Trong bài tường trình khoa học đăng báo Khoa học ngày 12/4/1898, bà viết:”Hai quặng Urani: ôxít Urani và phốt-phát Urani có hoạt tính hơn Urani nhiều, hiện tượng ấy rất đáng chú ý làm cho tin tưởng rằng các quặng ấy có thể chứa đựng một chất có hoạt tính hơn Urani nhiều”.

Và bà đã tự chứng minh rằng chất ấy nhất định phải có. Nó phải là một chất hoàn toàn mới.

Từ đây, khi nghiên cứu đã có kết quả ban đầu, chồng bà, ông Pierre, một nhà vật lý học nổi tiếng đã gác mọi công việc lại để dốc sức cùng với vợ mình tìm ra chất mới.

Hai đôi bàn tay, hai khối óc đã làm cho sức làm việc tăng lên gấp đôi. Và đôi vợ chồng phi thường này đã khiến giới khoa học phải sửng sốt khi công bố báo cáo tiếp theo vào ngày 26/12/1898.

Trong báo cáo, họ viết: ” …Những lý do mà chúng tôi vừa kể trên cho phép chúng tôi tin rằng chất phóng xạ mới chứa đựng một nguyên tố mới, mà chúng tôi dự định đặt tên là Radi…”

Nhưng cho đến thời điểm đó, chưa một nhà khoa học nào được trông thấy Radi cả. Chưa ai biết trọng lượng nguyên tử của chất Radi. Giới các nhà hoá học, họ nói rằng họ chưa tin có sự tồn tại của chất ấy. Trừ khi vợ chồng bà Marie chỉ cho họ thấy chất Radi trước mắt họ.

Và thế là, ông bà Marie lại phải cật lực làm việc suốt hơn 4 năm nữa.

1/10 Gram Radi nguyên chất… từ nhà kho

Gác sang một bên hạnh phúc gia đình, bà Marie cùng chồng lại miệt mài với hàng ngàn thí nghiệm trong gian phòng chật hẹp, ẩm ướt trước kia. Hoàn cảnh bắt buộc họ phải như thế.

Về sau, bà kể lại: “Chúng tôi không có tiền, không có phòng thí nghiệm và không có người giúp việc để làm cái công việc quan trọng và khó khăn ấy… Tuy nhiên, chính ở trong cái nhà kho cũ kỹ và nghèo nàn ấy mà những năm trời tốt đẹp nhất và hạnh phúc nhất trong cuộc sống của chúng tôi đã qua đi hoàn toàn dành cho công việc.

Nhiều khi tôi nấu ăn tại chỗ để khỏi phải ngừng một vài động tác cực kỳ quan trọng. Nhiều khi tôi dành cả ngày để quấy một chất đang sôi, bằng một cây gậy sắt cao ngang tầm người, đến đêm tôi mệt rã người ra…”

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, 1 năm, 2 năm… rồi 3 năm, nhưng bà và chồng không hề nản lòng. Chất Radi càng bí mật, càng tìm lại càng lặn mất tăm, lại càng cuốn hút họ lao vào làm việc cật lực hơn.

Khi công việc đã tiến gần tới đích, chồng bà hình như không còn đủ kiên nhẫn. Ông khuyên Marie tạm dừng ở đây.

Nhưng làm sao có thể tạm dừng? Bản tính tìm hiểu đến cùng vẫn mãnh liệt cháy trong Marie, bà quyết tâm sẽ đi đến cùng dù con đường phía trước có gian lao, lâu dài tới đâu.

Trời không phụ lòng người, mất gần 4 năm sau ngày bà Marie cùng chồng báo cáo sự có mặt của chất Radi, Mari eđã chiến thắng trong cuộc phiêu lưu đầy khổ ải ấy. Bà đã làm ra được 1/10 gram Radi nguyên chất, và bà đã tính ra trọng lượng nguyên tử của chất mới đó là 225.

Từ đây, các nhà khoa học bấy lâu nay vẫn nghi ngờ nghiên cứu của Marie đã cúi đầu trước sự cố gắng phi thường của một phụ nữ. Chất Radi chính thức được xác nhận sự tồn tại.

Mới 38 tuổi đã goá chồng, bà phải nuôi 2 con nhỏ và chăm sóc bố chồng 80 tuổi. Dù đau khổ vì cảnh mẹ goá con côi, nhưng bà đã vượt qua tất cả để đảm nhận trọng trách thay chồng một cách xuất sắc. Đồng thời tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học, không ngừng phát triển tri thức của mình.

“Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…” (Nikolai Alexeevich Ostrovsky – Thép đã tôi thế đấy). Marie Curie chính là một người như thế, không bao giờ chấp nhận sống hoài, sống phí. Và bà viết lên những trang sử huy hoàng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phụng sự nhân loại.

Nhân loại sẽ mãi ghi nhớ công lao của bà – một nữ bác học lừng danh!

Nguyễn Mạnh Quang

Tại sao Việt Nam không có doanh nghiệp vĩ đại

Mời bạn đọc một bài hay do mình tình cờ sưu tầm được.

Ở tất cả các nước trên thế giới đều có những doanh nghiệp lớn nhưng chỉ ở một số nước có những doanh nghiệp vĩ đại. Nhìn vào Danh sách doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về doanh thu – Bảng xếp hạng VNR500, có thể thấy ở Việt Nam có những doanh nghiệp lớn nhưng trong số đó chưa thể kể ra một doanh nghiệp vĩ đại.

Cuốn sách Từ tốt đến vĩ đại của Jim Colins đã và đang gây sự chú ý của giới doanh nhân và các nhà quản lý trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Qua quá trình nghiên cứu, phân tích hàng loạt các công ty, tác giả đã đưa ra những phát hiện gây ngạc nhiên đến mức sững sờ về những công ty vĩ đại với những “bí quyết” tạo nên những bước thành công nhảy vọt và trường tồn qua thời gian. Những “bí quyết” này hoàn toàn không giống như, thậm chí có lúc trái ngược với những gì mà lâu nay người ta vẫn tưởng về nguồn gốc của sự thành công hay thất bại ở một công ty. Theo Jim Colins, một công ty được coi là vĩ đại trước hết phải có bước nhảy vọt và trong 15 năm tiếp theo lợi nhuận tích luỹ cao hơn thị trường chung ít nhất 3 lần và có thể lấy ví dụ của Abbott, Gillette, Philip Morris như những công ty vĩ đại. Theo chúng tôi, những công ty như General Electric, Intel, Wal-Mart, Walt Disney…trong mọi trường hợp cũng phải được gọi là những công ty vĩ đại vì những đóng góp của các công ty đó đối với nhân loại.
Khi tuyển chọn các công ty nhảy vọt và coi đó là dấu hiệu của sự vĩ đại, Jim Colins đã đưa điều kiện là các công ty này phải có mặt trong Danh sách Fortune 500 – danh sách các công ty hàng đầu của Mỹ được xếp hạng dựa theo doanh thu hàng năm. Lựa chọn những công ty vĩ đại từ những công ty hàng đầu chắc chắn sẽ dễ dàng hơn vì các công ty này đã thỏa mãn một số tiêu chí cơ bản. Ở Việt Nam, khi lựa chọn những công ty xuất sắc có lẽ cũng nên dựa trên Bảng xếp hạng VNR500 – Bảng xếp hạng được xây dựng theo mô hình Fortune 500.

Ở Việt Nam chưa có những doanh nghiệp vĩ đại. Jim Colins đang nói về những doanh nghiệp từ “tốt” chuyển lên thành “vĩ đại” (good to great), trong khi đa số các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới đang ở trong tình trạng “tầm tầm” (something), thậm chí “chưa là gì” (nothing) so với thế giới. Chúng tôi thấy rằng để xây dựng những doanh nghiệp vĩ đại trước hết cần có tham vọng của những người lãnh đạo công ty, trên hết là vì công ty và lo lắng cho sự thành công của công ty hơn cho sự giàu có của cá nhân hay danh tiếng của bản thân. Như đã phân tích ở trên, để trở thành doanh nghiệp vĩ đại, trước hết phải là doanh nghiệp lớn nhưng dường như vấn đề sở hữu đang là cản trở để lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước đưa doanh nghiệp mình trở thành doanh nghiệp vĩ đại. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp rất thành công nhưng trở ngại chủ yếu vẫn là vấn đề cơ chế, chính sách và năng lực, quy mô – dù người chủ doanh nghiệp có tham vọng đưa doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp vĩ đại nhưng không phải lúc nào cũng có điều kiện thực hiện tham vọng ấy. Ở đây không thể phủ nhận vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp với tham vọng, ý chí và sự khiêm nhường. Lãnh đạo doanh nghiệp nhảy vọt không bao giờ để cái tôi xem vào tham vọng lớn của mình, có sự điềm tĩnh che giấu quyết tâm cao độ, cống hiến hết mình để đưa doanh nghiệp tiến lên mà không hề nghĩ đến những gì được nhận lại.

Có ý kiến cho rằng người chủ doanh nghiệp tỉnh táo cần biết chọn lựa giải pháp phù hợp cho doanh nghiệp mình, không nhất thiết phải hòa nhập một cách khiên cưỡng vào những tư tưởng vĩ đại, nhưng quá xa lạ với hoàn cảnh riêng của doanh nghiệp mình. Theo chúng tôi, lãnh đạo doanh nghiệp cần có tham vọng lớn mới có thể đưa doanh nghiệp phát triển lên những tầm cao mới.

Để xây dựng doanh nghiệp vĩ đại cần có những con người phù hợp nhưng trở ngại của các doanh nghiệp Việt Nam là chưa có được đội ngũ nhân sự phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã bước đầu nhận thức được “Con người là tài sản quý giá nhất của công ty” tuy nhiên vẫn vấp phải trở ngại về sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và trở ngại về tính cách cá nhân đối với các doanh nghiệp tư nhân. Một nguyên tắc quan trọng là cần giao cho người giỏi cơ hội tốt nhất để thể hiện khả năng của mình nhưng ở các doanh nghiệp Việt Nam thường giao cho người giỏi công việc khó để những người này dễ… thất bại.

Để vượt lên từ lớn đến vĩ đại đòi hỏi phải vượt qua được trở ngại về năng lực nhưng vấn đề quan trọng không kém là vấn đề chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải chọn một lĩnh vực làm trọng tâm và trở thành doanh nghiệp tốt nhất trong lĩnh vực đó. Theo Jim Colins, các công ty nhảy vọt hiểu rằng nếu tiếp tục làm như những gì mình làm tốt thì mãi vẫn chỉ đạt mức tốt. Tập trung vào điều gì có tiềm năng làm tốt hơn bất cứ doanh nghiệp nào khác mới là con đường đưa đến vĩ đại. Trên thực tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp hàng đầu đang loay hoay theo hướng kinh doanh đa ngành nghề, gió chiều nào theo chiều ấy mà chưa tập trung và xác định việc kinh doanh cốt lõi (core business) của mình. Điều an ủi đối với các doanh nghiệp Việt Nam rút ra từ kinh nghiệm của các công ty vĩ đại của Mỹ là không nhất thiết phải hoạt động trong một ngành công nghiệp vĩ đại mới tạo dựng được kết quả vĩ đại mà bền vững và một công ty nhảy vọt trung bình cần 4 năm để tìm ra chiến lược, tìm ra lĩnh vực mà họ đam mê.

Cần phải nhìn nhận rằng bên cạnh các yếu tố kể trên, công nghệ chính là bàn đạp để các doanh nghiệp nhảy vọt và trở nên vĩ đại. Năm 1865 Nokia được thành lập với tư cách là công ty chuyên sản xuất giấy và bột giấy, sau đó phát triển thành công ty sản xuất giấy, cao su và đồ điện tử. Năm 1990 Nokia quyết định chỉ tập trung vào kinh doanh công nghệ số – công nghệ viễn thông di động và đã tuyển dụng 13.000 nhân viên trong nghiên cứu và phát triển. Hiện tại có thể nói các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú ý, chưa có điều kiện để đầu tư phát triển công nghệ. Kinh nghiệm cho thấy không có công ty nhảy vọt nào bắt đầu quá trình chuyển đổi bằng việc trở thành tiên phong công nghệ tuy nhiên phải trở thành tiên phong trong việc áp dụng công nghệ một khi không nghệ này phù hợp với chiến lược phát triển của công ty. Tìm hiểu một số nguyên nhân tạo ra bước nhảy vọt của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp trở nên vĩ đại, chúng ta dễ dàng giải thích tại sao ở Việt Nam chưa có những doanh nghiệp vĩ đại nhưng qua đó, chúng ta vẫn có quyền hy vọng một ngày nào đó, Việt Nam cũng có những công ty sánh ngang tầm thế giới. Từ lớn đến vĩ đại là một khoảng cách thật xa mà cũng không xa.

TS. Phạm Trí Hùng

Tổng kết năm 2011

Một năm 2011 biết trước là rất xấu (qua Tử vi), và thực tế là nó te tua, chủ yếu về tinh thần, liên quan đến con người. Rất te tua.

Còn lại sức khỏe, tiền tài… vẫn không ảnh hưởng gì. Kết cục cả năm làm việc cũng được loại A.

Sau cơn mưa, trời lại sáng, dù đất vẫn còn ẩm ướt và dơ. Vết thương sẽ lành theo năm tháng, da sẽ liền lại, nhưng sẹo vẫn còn. Cái được / mất chủ yếu do chính ta quan niệm. Bản thân mình nhận thấy rằng: cảm ơn những biến cố đã làm ta thay đổi, làm ta trưởng thành.

Và đúng là năm 2011 đã làm mình thay đổi rất nhiều! Và phải chăng đây chính là duyên, duyên đưa mình đến với Phật?