Học gì từ Bill Gates?

Sau ngày làm việc cuối cùng của Bill Gates tại Microsoft. Một số người thở phào vì đã loại bỏ được một đối thủ cạnh tranh nặng ký. Nhưng có rất nhiều điều những người trẻ tuổi có thể học hỏi từ một trong những doanh nhân thành công nhất trong thời đại của chúng ta.

Tập trung: Hơn 30 năm qua, Bill Gates đã chứng minh tầm quan trọng của sự rõ ràng, mạch lạc trong suy nghĩ và hành động. Không giống những người cùng thời, ông không bao giờ rời xa thứ mà ông hiểu rõ hơn bất kỳ thứ gì khác: phần mềm. Ông đã theo đuổi mục tiêu thống trị lĩnh vực phần mềm. Đầu tư vào lĩnh vực mới có thể hợp thời và đúng phong trào, nhưng mức độ rủi ro cũng rất cao. Nếu bạn cần một ví dụ điển hình về cái gọi là “khả năng tập trung vào thứ mình hiểu rõ”, thì Bill Gates và Microsoft chính là thứ bạn đang tìm kiếm. Tập trung cũng có nghĩa là khả năng theo đuổi mục tiêu một cách kiên định cho dù gặp phải bất kỳ trở ngại nào. Mức độ kiên nhẫn này không phải dễ dàng có được.

Dám nghĩ: Cùng với khả năng tập trung, khả năng ước mơ lớn và theo đuổi những ước mơ đó với lòng quyết tâm sắt đá đã hình thành lên một Bill Gates hoàn toàn khác so với các doanh nhân cùng thời. Các doanh nhân cần phát triển sự tự tin tối đa để có thể gánh vác cả thế giới và trở thành người chiến thắng.

Say mê: Bill Gates đơn giản chỉ nghĩ rằng, nếu có bất kỳ việc gì đáng làm, thì việc đó cũng đáng được làm thật tốt. Từ lời cảm ơn đơn giản tới lời đề xuất phức tạp, đảm bảo sự thành công cho bất kỳ việc gì mình làm chính là điểm mấu chốt. Nhu cầu cải tiến liên tục là thứ tương đối quan trọng. Thay đổi là hằng số duy nhất và chúng ta càng thích ứng và lanh lợi trước sự thay đổi, chúng ta càng có nhiều cơ hội thành công.

Học tập không ngừng: Mặc dù bỏ học giữa chừng khi đang học đại học để thực hiện ước mơ, nhưng Bill Gates có lẽ đã đọc nhiều hơn hầu hết chúng ta đã từng và sẽ đọc. Trong quá trình học tập, ông đã cho thấy những hạn chế của giáo dục chính quy. Giáo dục chính quy quả là rất quan trọng, nhưng có lẽ việc nhận thức rằng học tập là cả một quá trình lâu dài còn quan trọng hơn. Kiến thức là vô tận. Thậm chí cả khi chúng ta học tập không ngừng nghỉ suốt cuộc đời, nhiều khi chúng ta vẫn chỉ có thể hiểu được một phần nhỏ của biển kiến thức mênh mông. Kiến thức cần phải dẫn tới sự khiêm tốn và tính khôn ngoan – không kiêu ngạo và giành, giữ lợi thế với người khác.

Trả ơn xã hội: Quỹ Bill & Malinda Gates đưa ra một khía cạnh mới về lòng nhân đức bằng cách đi thẳng vào những vấn đề mang tính toán cầu: bệnh sốt rét, ung thư và AIDS. Cảm thấy tâm hồn thanh thản khi làm việc thiện dường như đã trở lên lỗi thời nhưng điều này có thể là cách tốt nhất để đẩy mạnh cuộc chiến chống lại những bệnh tật đã cướp đi sinh mạng hoặc làm tổn thương hàng triệu người mỗi năm. Bạn bè ông và tỉ phú Warren Buffet cũng cùng tham gia, góp phần làm cho cuộc đấu tranh mạnh mẽ hơn. Bill Gates đã thể hiện một mức độ kiên định đáng nể trọng cả trong các mục tiêu kinh doanh lẫn các mục tiêu từ thiện – ông thực sự là một công dân toàn cầu.

Trên thực tế, chỉ có 5% nguồn của cải giàu có của 200 người giàu nhất có thể dùng để loại bỏ một số những vấn đề cấp thiết nhất mà nhân loại đang phải đối mặt. Sự giàu có không nên chỉ hiểu theo khía cạnh xây dựng được những ngôi nhà chói lọi nhất mà còn là sự theo đuổi một mục đích tốt đẹp hơn, tốt đẹp cho bản thân và cho cả nhân loại.

Với bất kỳ một cá nhân thành công hay xuất sắc nào, luôn có rất nhiều vấn đề xung quanh họ khiến báo giới, các phương tiện thông tin đại chúng tốn nhiều giấy mực và thời gian tranh luận. Trong kỷ nguyên hiện đại, sự khác biệt giữa cách thức thực hiện và mục đích cần đạt được đang ngày càng trở lên mờ nhạt. Một số người có thể không tán thành với cách Bill dùng để đạt được thứ ông đã có, nhưng người ta cũng khó có thể phủ nhận những đóng góp của ông cho ngành công nghệ thông tin.

Tuy nhiên, lịch sử và hậu thế có thể sẽ nhớ tới những gì ông quyết định làm – ở tuổi đời còn tương đối trẻ – trong phần còn lại của cuộc đời ông. Cuộc chiến chống đói nghèo, bệnh tật và đem giáo dục đến cho người nghèo thực sự là những mục tiêu cao cả đáng được bất kỳ ai quan tâm tới nhân loại và chất lượng cuộc sống trên hành tinh này đẩy mạnh. Về vấn đề này, không thể có cá nhân nào tiêu biểu và xứng đáng tôn vinh hơn Bill Gates.

(sưu tầm)

Google chia sẻ kinh nghiệm thành công

Sự thành công của Google khiến không ít người giật mình, nhưng cũng chính từ triết lý và mục tiêu mà gã khổng lồ tìm kiếm đang theo đuổi, chúng ta có thể học được khá nhiều điều.

Ken Auletta, tác giả của cuốn Googled: The end of the world as we know it, đã chia sẻ với độc giả CNN những điều tâm đắc của mình sau chuyến hành trình khám phá lịch sử Google.

1. Quyết tâm giành chiến thắng đến cùng

Hãy bắt đầu với lời khuyên của Larry Page dành cho các doanh nghiệp khi phát biểu tại Đại học Stanford, trước các tân sinh viên mới tốt nghiệp “Đừng tự bằng lòng”. Quyết tâm, lòng quả cảm này đã trở thành động lực để Page và Serget Brin truyền cảm hứng cho toàn bộ nhân viên Google sẵn sàng với phương châm “phục vụ tối đa lợi ích của người dùng”, chấp nhận những mạo hiểm mới, sẵn sàng cải tiến triệt để công cụ tìm kiếm.

Michael Moritz, nhà đầu tư từng rót tiền cho cả Yahoo và Google, chia sẻ với Ken Auletta, Google là một công ty “hiếm có”: “Với Yahoo, tôi là một đối tác thân cận từ lâu, ở đấy tôi có rất nhiều cảm xúc và muốn được duy trì tình cảm lâu dài. Nhưng từ khi đến với Google, tôi bắt đầu nhận ra rằng công ty này rất khác so với Yahoo. Nó được hình thành từ những nghiên cứu mày mò của các nhà sáng lập. Trong khi đó, Yahoo do Jerry và David xây dựng, từ niềm yêu thích cá nhân. Đó là một sự khác biệt rất lớn”.

Thiếu niềm say mê, Moritz chia sẻ, chính là lý do khiến Jerry Yang và David Filo không dành trọn thời gian làm việc cho công ty mà cả hai đã tạo lập.

2. Tập trung vào mục tiêu nhất định là chìa khóa

Có niềm say mê mà không định hướng sẽ dẫn tới lạc đường. Bill Campbell, người đứng đầu hãng phần mềm Intuit, sau khi dành nhiều ngày tham quan trụ sở của gã khổng lồ phần mềm đã chia sẻ rằng: thành công của Google chính là biết “đam mê một cách tập trung”. Có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của yếu nhân thứ ba ở Google, CEO Schmidt. Mặc dù là người đến sau nhưng Schmidt đã đóng góp một cách đáng kể vào lộ trình phát triển và thành công của Google như ngày nay.

3. Nhìn xa trông rộng

Nếu không có tầm nhìn, những kế hoạch đã lên sẽ đi vào ngõ cụt. Không ít lần người dùng Internet đã trương những khẩu hiệu hi vọng và mong mỏi Google không trở thành những “con quỷ” như các đại gia công nghệ khác. Trong khi đó, với mục tiêu ban đầu là mang thông tin của toàn thế giới đến tận tay người dùng, Page và Brin đã nỗ lực và luôn tâm niệm: đầu tiên và quan trọng nhất là phục vụ “thượng đế”.

Từ định hướng ấy, Google đã trở thành công cụ nhanh chóng chiếm lĩnh niềm tin của hàng triệu người dùng, khi giúp họ tìm kiếm thông tin trên mạng, tin tức, sách, âm nhạc… Google cũng sẵn sàng nói “không” với những quảng cáo chẳng ăn nhập gì với thông tin tìm kiếm của khách hàng. Đưa ra những lựa chọn tốt nhất, rẻ và tiện dụng, từ tìm kiếm thông tin, lưu trữ trực tuyến, email và lịch, Google đang theo đúng định hướng ban đầu là phục vụ người dùng.

4. Trí tuệ tập thể là yếu tố sống còn

Google dành cho nhân viên 20% thời gian làm việc để họ tự lên kế hoạch, tìm giải pháp lựa chọn của riêng mình. Hướng tới mã mở, chọn giải pháp cuối cùng dựa vào trí tuệ tập thể, Google đã tạo nên một môi trường làm việc được tổ chức, quản lý khoa học, hệ thống từ trên xuống dưới. Do đó, cỗ máy tìm kiếm luôn được cải tiến và đế chế Google không ngừng mở rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Larry Page láu lỉnh chia sẻ: “Mỗi công ty đều có đặc thù riêng, ngay cả với những công ty về công nghệ. Chắc chắn là bạn cũng muốn công ty của mình có nét văn hóa doanh nghiệp, trong đó mọi người làm việc, các nhà khoa học và kỹ sư được trao quyền quyết định, đề xuất. Tất cả được quản lý bởi những người am hiểu sâu sắc nhân viên của mình, biết họ đang làm gì”.

5. Coi trọng các kỹ sư – nhân viên

Ở thung lũng Silicon, các kỹ sư được ví như những người tổ chức chương trình truyền hình, đạo diễn điện ảnh hoặc thậm chí là các nhà văn. Họ thật sự là những người sáng tạo. Ở Google, các kỹ sư được dành riêng 20 % thời gian lao động để tự do phóng túng với những ý tưởng sáng tạo, đeo đuổi say mê cá nhân.

Do đó sự sáng tạo, nền tảng cho những bước đường thành công của Google, đã nảy sinh trong khi các kỹ sư đang thỏa sức làm việc. Có thể nói coi trọng nhân viên, đội ngũ lao động đòi hỏi sự sáng tạo, chính là nhân tố quan trọng nhất quyết định tới sự phát triển của một công ty.

Google đã thành công với phương án “lạt mềm buộc chặt”. Không phải ngẫu nhiên mà Page và Brin, Schmidt dành rất nhiều thời gian mỗi tuần để gặp gỡ, trao đổi với các kỹ sư. Với hầu hết các công ty truyền thông truyền thống, đội ngũ kỹ sư hiếm khi được coi trọng đến thế.

6. Khách hàng là thượng đế

Lý do quan trọng giúp Google bay cao, trở thành một trong số các thương hiệu đáng tin cậy nhất thế giới chính bởi vì gã khổng lồ luôn coi khách hàng là thượng đế. Quảng cáo trực tuyến có thể mang đến 97% doanh thu cho Google, nhưng dường như người dùng chẳng bận tâm gì tới điều này. Các dịch vụ của Google vẫn hoàn toàn miễn phí, thân thiện, dễ dùng, giống như nghe nhạc trên iPod vậy.

Thời đang còn là sinh viên trường đại học danh tiếng Stanford, Larry Page đã may mắn đọc được cuốn sách The design of everyday things của Donald A. Norman. Bài học cũ đã được ông chủ Google áp dụng triệt để và thành công vang dội, đó chính là xây dựng những hệ thống dịch vụ có thể giành được niềm tin của khách hàng, theo một cách hoàn toàn tự nhiên.

Để hiểu Google đã giành được niềm tin của khách hàng ra sao, hãy trở lại thời điểm phát hành trái phiếu lần đầu ra công chúng năm 2004. Google khẳng định đi khẳng định lại: “Hãng tin rằng người dùng cũng muốn góp phần vào sự thành công lâu dài của Google. Đó chính là cơ sở quan trọng để tạo dựng giá trị niềm tin lâu dài.”.

Tập trung vào người dùng, Page và Brin đã vạch định những nguyên tắc tổ chức dành cho đội ngũ nhân viên với châm ngôn của Sam Walton: “Nếu bạn không lắng nghe khách hàng của mình, chắc chắn sẽ có đối thủ khác làm điều ấy.”

7. Tất cả mọi đối thủ đều có thể là đối tác

Đôi khi không dễ dàng gì nhận diện được đâu là một đối thủ tiềm ẩn, bạn và thù. Trên thương trường càng phức tạp hơn. Khởi nghiệp là một bộ máy tìm kiếm, nhưng Google nhanh chóng nhận ra hãng có thể bán quảng cáo một cách hiệu quả, cung cấp tin tức hay hỗ trợ tìm kiếm sách, sử dụng nền tảng cơ sở phát triển dịch vụ điện toán đám mây, chen chân vào thị trường video trực tuyến sau khi mua lại Youtube, ngoài ra cũng không thờ ơ với miếng mồi thiết bị di động.

Chương trình quảng cáo Google AdSense đã giúp hàng trăm tờ báo điện tử sống sót, còn AdWord mở ra cơ hội quảng bá cho các đối tác. Youtube trở thành địa chỉ hỗ trợ các mạng TV, Android cung cấp phần mềm hệ điều hành cho hàng loạt hãng viễn thông.

Tham vọng nhưng Google không ngừng củng cố niềm tin khách hàng, tranh thủ mọi cơ hội để trở thành đối tác của tất cả các đối thủ, vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

8. Đừng quá tự tin vào… máy móc

Google thành công trong việc giành niềm tin khách hàng, xây dựng văn hóa làm việc theo nhóm, đồng thời có chiến lược phát triển lâu dài. Nhưng cũng không ít lần Google đã thất bại trong nỗ lực cải tiến thế giới theo những cách… khác người!

Page đã lầm khi cho rằng Google có thể ngay lập tức số hóa được kho sách của nhân loại, cũng như ý tưởng, giải pháp quảng cáo mới để bán quảng cáo tốt hơn trên báo và radio. Cả hai nỗ lực này vẫn đang trục trặc.

Nhiều lần Google tỏ ra thiếu khéo léo để có thể tránh được hàng loạt vụ tranh chấp, “dính chàm” với vấn đề bản quyền, thông tin riêng tư cá nhân hay trục trặc với cơ quan chức năng.

9. Chẳng có gì là thập toàn thập mỹ

Ngày nay, dường như rất khó có thể đánh bại được Google. Nhưng một thập kỷ trước AOL mới là số một.

Do đó chẳng có gì là chắc chắn. Nên nhớ IBM từng một thời chiếm tới 70 % thị trường PC toàn cầu. Sau khi Chính phủ Mỹ vào cuộc, IBM bắt đầu gặp hàng loạt trục trặc, nhất là với sự xuất hiện của rất nhiều đối thủ khác đáng gờm. IBM đã mất hút từ lâu trên thị trường PC.

Hẳn Google cũng hiểu rõ điều này. Hãng đã đổ rất nhiều tiền vào hàng loạt lĩnh vực khác ngoài tìm kiếm trực tuyến, nhất là Youtube, Android và điện toán đám mây. Bài học từ AOL và IBM vẫn còn đó.

10. “Cuộc đời thì dài nhưng thời gian lại ngắn ngủi.”

Đó là những gì CEO Schmidt chia sẻ. Theo ông, cuộc đời quả là dài khi chúng ta có những ký ức không phai. Nhưng thời gian lại rất ngắn ngủi, chúng ta vẫn phải tận dụng từng giây phút một. Theo Schmidt, tất cả mọi khó khăn đều có thể trở thành một cơ hội.

Đó cũng là lý do vì sao Google, như từ trước đến nay vẫn thế, không ngừng mạo hiểm đầu tư, phát triển dịch vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau để tiến lên, không “neo đậu” theo những kí ức thành công nào đó.

NHẬT VƯƠNG (Theo CNN)

Kiên trì, khổ luyện, đam mê, khát vọng… làm nên Marie Curie (2)

Chất Radi – Cuộc “truy tìm” không mệt mỏi

Cuối năm 1987, Marie vừa mới ở cữ xong đã trở lại làm việc. Tuy phải đảm trách công việc của một người vợ trông nom nhà cửa, chăm sóc con nhỏ… nhưng bằng nghị lực và sự cố gắng phi thường, Marie đã tìm ra chất Radi, phát minh quan trọng bậc nhất trong khoa học hiện đại.

Với tính ham học hỏi và tìm hiểu cặn kẽ mọi vấn đề, bà đã đọc đi đọc lại công trình nghiên cứu của nhà vật lý học Hăng-ri Bếch-cơ-ren công bố năm 1896. Trong công trình đó, ông đã nghiên cứu chất Urani và phát hiện ra rằng các muối urani tự toả ra, không cần tác dụng của ánh sáng.

Để rồi, hàng loạt những dấu hỏi hiện lên trong đầu nhà nữ bác học này. Bà tò mò, không biết đâu là nguyên nhân của hiện tượng phát quang ấy; năng lượng ấy ở đâu mà ra… Và chính từ đây, bà bắt đầu dấn thân vào một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm và gian lao!

Điều làm tôi khâm phục chính là tinh thần không ngại khó, ngại khổ của Marie. Hoàn cảnh có khổ ải như thế nào cũng không thể ngăn nổi bà trên con đường chinh phục cái mới.

Khi bắt đầu con đường tìm kiếm lời lí giải cho những thắc mắc, bà đã gặp bề bộn những khó khăn. Nhờ vảo các mối quan hệ, nhưng Marie cũng không thể tìm cho mình một phòng thí nghiệm ưng ý.

Cuối cùng, ông hiệu trưởng trường đại học Sorbonne cũng đồng ý để bà sử dụng một gian nhà kho của trường làm nơi thí nghiệm. Đó là một gian phòng bề bộn, ám khói, vừa dùng làm kho chứa hàng, vừa dùng để trang bị kĩ thuật.

Dù vậy, nữ bác học không hề nản lòng. Dù trang thiết bị thiếu thốn và môi trường làm việc chật hẹp, nhưng với chuỗi ngày dài đắm say với những thí nghiệm, cuối cùng bà cũng đã có được những kết quả hết sức khả quan.

Trong bài tường trình khoa học đăng báo Khoa học ngày 12/4/1898, bà viết:”Hai quặng Urani: ôxít Urani và phốt-phát Urani có hoạt tính hơn Urani nhiều, hiện tượng ấy rất đáng chú ý làm cho tin tưởng rằng các quặng ấy có thể chứa đựng một chất có hoạt tính hơn Urani nhiều”.

Và bà đã tự chứng minh rằng chất ấy nhất định phải có. Nó phải là một chất hoàn toàn mới.

Từ đây, khi nghiên cứu đã có kết quả ban đầu, chồng bà, ông Pierre, một nhà vật lý học nổi tiếng đã gác mọi công việc lại để dốc sức cùng với vợ mình tìm ra chất mới.

Hai đôi bàn tay, hai khối óc đã làm cho sức làm việc tăng lên gấp đôi. Và đôi vợ chồng phi thường này đã khiến giới khoa học phải sửng sốt khi công bố báo cáo tiếp theo vào ngày 26/12/1898.

Trong báo cáo, họ viết: ” …Những lý do mà chúng tôi vừa kể trên cho phép chúng tôi tin rằng chất phóng xạ mới chứa đựng một nguyên tố mới, mà chúng tôi dự định đặt tên là Radi…”

Nhưng cho đến thời điểm đó, chưa một nhà khoa học nào được trông thấy Radi cả. Chưa ai biết trọng lượng nguyên tử của chất Radi. Giới các nhà hoá học, họ nói rằng họ chưa tin có sự tồn tại của chất ấy. Trừ khi vợ chồng bà Marie chỉ cho họ thấy chất Radi trước mắt họ.

Và thế là, ông bà Marie lại phải cật lực làm việc suốt hơn 4 năm nữa.

1/10 Gram Radi nguyên chất… từ nhà kho

Gác sang một bên hạnh phúc gia đình, bà Marie cùng chồng lại miệt mài với hàng ngàn thí nghiệm trong gian phòng chật hẹp, ẩm ướt trước kia. Hoàn cảnh bắt buộc họ phải như thế.

Về sau, bà kể lại: “Chúng tôi không có tiền, không có phòng thí nghiệm và không có người giúp việc để làm cái công việc quan trọng và khó khăn ấy… Tuy nhiên, chính ở trong cái nhà kho cũ kỹ và nghèo nàn ấy mà những năm trời tốt đẹp nhất và hạnh phúc nhất trong cuộc sống của chúng tôi đã qua đi hoàn toàn dành cho công việc.

Nhiều khi tôi nấu ăn tại chỗ để khỏi phải ngừng một vài động tác cực kỳ quan trọng. Nhiều khi tôi dành cả ngày để quấy một chất đang sôi, bằng một cây gậy sắt cao ngang tầm người, đến đêm tôi mệt rã người ra…”

Thời gian cứ lặng lẽ trôi, 1 năm, 2 năm… rồi 3 năm, nhưng bà và chồng không hề nản lòng. Chất Radi càng bí mật, càng tìm lại càng lặn mất tăm, lại càng cuốn hút họ lao vào làm việc cật lực hơn.

Khi công việc đã tiến gần tới đích, chồng bà hình như không còn đủ kiên nhẫn. Ông khuyên Marie tạm dừng ở đây.

Nhưng làm sao có thể tạm dừng? Bản tính tìm hiểu đến cùng vẫn mãnh liệt cháy trong Marie, bà quyết tâm sẽ đi đến cùng dù con đường phía trước có gian lao, lâu dài tới đâu.

Trời không phụ lòng người, mất gần 4 năm sau ngày bà Marie cùng chồng báo cáo sự có mặt của chất Radi, Mari eđã chiến thắng trong cuộc phiêu lưu đầy khổ ải ấy. Bà đã làm ra được 1/10 gram Radi nguyên chất, và bà đã tính ra trọng lượng nguyên tử của chất mới đó là 225.

Từ đây, các nhà khoa học bấy lâu nay vẫn nghi ngờ nghiên cứu của Marie đã cúi đầu trước sự cố gắng phi thường của một phụ nữ. Chất Radi chính thức được xác nhận sự tồn tại.

Mới 38 tuổi đã goá chồng, bà phải nuôi 2 con nhỏ và chăm sóc bố chồng 80 tuổi. Dù đau khổ vì cảnh mẹ goá con côi, nhưng bà đã vượt qua tất cả để đảm nhận trọng trách thay chồng một cách xuất sắc. Đồng thời tiếp tục công việc nghiên cứu khoa học, không ngừng phát triển tri thức của mình.

“Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí…” (Nikolai Alexeevich Ostrovsky – Thép đã tôi thế đấy). Marie Curie chính là một người như thế, không bao giờ chấp nhận sống hoài, sống phí. Và bà viết lên những trang sử huy hoàng trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phụng sự nhân loại.

Nhân loại sẽ mãi ghi nhớ công lao của bà – một nữ bác học lừng danh!

Nguyễn Mạnh Quang

Kiên trì, khổ luyện, đam mê, khát vọng… làm nên Marie Curie (1)

Sinh trưởng tại Balan, trong thời kì xã hội phong kiến phụ thuộc, nhưng Marie Curie không cam chịu cảnh sống bị kìm hãm, trói buộc, thân phận thấp hèn, đã ra sức học tập, hướng tuổi trẻ vào lý tưởng cao cả, ước mơ trở thành một nhà hoá học, một nhà vật lý học lớn của nhân loại.

Maria Skłodowska-Curie (sinh ngày 7/11/1867 – mất ngày 4/7/1934) là người Pháp gốc Ba Lan. Tên tuổi của bà chói sáng trong lịch sử vật lý học và hoá học thế giới với hai lần nhận giải Nobel (Vật lý năm 1903 và Hóa học năm 1911).

Cuộc đời bà là những trang đầy mồ hôi, nước mắt và vinh quang. Nhớ đến bà, không chỉ riêng tôi, mà biết bao người trên thế giới này phải ngưỡng bởi nghị lực phi thường và chí hướng của một người phụ nữ đam mê khoa học.

17 tuổi – làm nghề gõ đầu trẻ

Ngày 12/6/1883, tốt nghiệp trung học với thứ hạng nhất, Marie (lúc đó là Mania) từ giã mái trường trung học ở đại lộ Cra-cô-vi, khoác tay bố, ông rất tự hào về thành tích học tập của con gái.

Thời kì này, nước Balan chịu ảnh hưởng to lớn của Nga Sa hoàng nên thẳng tay đàn áp những phần tử cách mạng ái quốc, đày ải, cầm tù họ. Trong hoàn cảnh ấy, cô bé Marie chỉ mới 17 tuổi đã cùng với chị gái Brô-ni-ca tham gia dạy trong trường “đại học di động”.

Những lớp học bí mật được mở, tránh sự truy quét của bọn mật thám. Marie nhận nhiệm vụ đọc sách cho những nữ công nhân ở một xưởng may.

Khi xong hết những giờ ôn tập cho các học trò ở ngoài phố, những bài học cho các công nhân ở các xưởng và những giờ học lén lút về giải phẫu học ở trường “đại học di động”, thì cô đóng cửa ngồi trong buồng, đọc và viết.

Sau những tháng ngày hoà mình vào những buổi dậy ấy, Marie đã nghĩ đến sẽ sang Paris du học. Nhưng tiền đâu mà đi? Sang đó mình sẽ sống ra sao? Tất cả làm cô đắn đo. Nhưng mình sẽ có tiền để đi. Mình sẽ làm gia sư để kiếm tiền. Nhất định mình sẽ làm được.

Một buổi sáng tháng 9/1885, Marie tới trung tâm giới thiệu việc làm. Gặp bà giám đốc, cô bé đã gắng ăn mặc để già trước tuổi, nhưng vẫn không sao che giấu nổi vẻ thơ ngây của cô gái sắp 18 tuổi:

– Cô cần gì?

– Tôi tìm 1 chỗ dạy học tư

– Cô thạo tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ba-lan và tiếng Anh phải không?

– Thưa bà vâng. Tôi vừa mới ở trường trung học ra với huy chương vàng.

– Thế ý cô thế nào?

– Bốn trăm rúp một năm và bảo đảm ăn ở.

– À, thế cô bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?

– 17 tuổi.

Cô bé đỏ bừng mặt và nói tiếp với một nụ cười:

– Sắp 18 tuổi rồi.

Buổi phỏng vấn thành công ngoài mong đợi, để rồi 4 tháng sau đó, cô chính thức rời xa gia đình đi làm gia sư cho nhà ông bà D. Xduy-ki, một chủ điền ở nơi cách xa quê hàng trăm cây số.

Và Marie đã làm ở đây suốt 3 năm trời. Vẫn những thói quen như ngày nào, cô hăng say dạy cho lũ học trò nhỏ của mình những kiến thức cô có. Tranh thủ bất cứ lúc nào rảnh, Marie lại say mê đọc và nghiên cứu nhiều loại sách.

Mỗi tháng, Marie gửi cho chị Brô-ni-a 15 rúp để góp sức cùng cha nuôi chị ăn học ở Paris. Và trong huyết quản của cô gái trẻ ấy, ngọn lửa đến Paris vẫn cháy mãnh liệt.

1,3 rúp/ngày học đại học

Năm 1892, Marie đến Paris học ở trường đại học Sorbonne với số tiền có được chỉ 40 rúp/tháng. Trong khi đó, bao nhiêu thứ tiền phải chi: nào tiền nhà, tiền ăn, tiền quần áo, tiền sách vở, tiền ghi tên ở đại học… Đó là bài toán vô cùng khó giải. Nhưng bao giờ Marie cũng tìm thấy đáp số: Đó là tạo cho mình một cuộc sống khắc khổ…

Phòng trọ của cô rẻ tiền và thiếu tiện nghi. Đó là một gian buồng không có điện, không có nước và không đun nấu… chỉ có duy nhất chiếc lò sưởi giúp chống lại mùa đông giá lạnh với giá 20 quan/tháng.

Để tiết kiệm đến mức có thể, dù thời tiết có buốt giá đến mấy, Marie cũng chọn giải pháp đi bộ đến trường để khỏi phải tiêu thêm tiền đi xe buýt. Cô không cho phép mình có cảm giác rét để khỏi phải mua thêm than. Vì thế, cả mùa đông cô chỉ dùng một bao tải than.

Cô cũng hạn chế đốt đèn. Tối đến, cô sang thư viện Xanh Giơ-nơ-vi-e-vơ, ở đó có đèn sáng, ấm áp.

Cứ thế, cô gái Balan nghèo, hai tay ôm đầu, có thể làm việc cho đến 10h đêm, mãi đến khi thư viện đóng cửa.

Về nhà, cô chỉ cần đủ dầu để thắp đèn đến 2 giờ sáng, học cho đến khi mắt đỏ hoe lên vì nhọc, cô mới rời sách, lăn vào giường ngủ.

Trong sinh hoạt hàng ngày, cô không bao giờ vào cửa hàng thịt, cửa hàng ăn vì giá đắt. Cả tuần, cô chỉ ăn bánh mì phết bơ và uống nước chè. Đến nỗi, có lần cô ngất xỉu ở trên lớp.

Sống như vậy, trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn, nhưng Marie vẫn say mê học tập vì sự tiến bộ của mình. Cô tự nghĩ mình có thể đọc được tất cả những cái gì mà người đời khám phá ra.

Cô theo học các lớp toán, lý, hoá. Cô dần làm quen với kỹ thuật thực hành khoa học. Có một bằng cử nhân chưa đủ, Marie quyết định thi 2 bằng, bằng cử nhân toán và bằng cử nhân vật lý.

Và ông trời đã không phụ công của người có chí: sau ba năm học tập, cô đã đỗ đầu trong kỳ thi ra trường và được cấp bằng Cử nhân Khoa học năm 1893 và năm sau, đậu thứ nhì trong kỳ thi lấy văn bằng Cử nhân Toán.

(còn tiếp)

Các blogger kiếm tiền giỏi nhất thế giới

“Thế giới phẳng” đã mở ra cơ hội kiếm được những công việc “độc” cho nhiều người. Viết blog cũng vậy. Đề tài để các blogger có thể lựa chọn làm thế mạnh rất phong phú. Có blog chuyên đăng tải những bức ảnh thú vị về các chú mèo, có blog cập nhật tin mới về các ngôi sao giải trí, blog khác chuyên luận bàn về chủ đề chính trị, có blog chuyển tải tin tức công nghệ… Lượng truy cập của độc giả càng lớn bao nhiêu, số tiền nhận được của blogger càng có cơ hội cao hơn bấy nhiêu.

Sau đây là danh sách top blogger có thu nhập cao nhất trên thế giới.

1. BoingBoing – 1 triệu USD/năm

Ra mắt 01-2000, với mệnh danh là “thư mục của hàng trăm thứ thú vị”, Boingboing hiện vẫn được coi là “ông vua blog” (the king) ở khả năng kiếm tiền. Luôn xếp hạng trên cùng theo thống kê của Technorati, trong tháng 06 vừa rồi, Boingboing có tới 22 triệu lượt page views, từ 2,2 triệu khách (unique visitor). Giá bán quảng cáo dao động từ mức 350 USD cho một “khoảnh đất” nho nhỏ một tuần tới 2000-3000 USD cho những banner lớn hơn với 170.000 lượt hiển thị. Federated Media hiện là đối tác bán quảng cáo cho “the king”.

Chỉ có 4 tác giả, nhưng BoingBoing cập nhật 20-40 lần mỗi ngày. Khởi nghiệp từ khá sớm, ông chủ của BoingBoing, hai vợ chồng Mark Frauenfelder và Carla Sinclair viết chủ yếu về các chủ đề khoa học viễn tưởng, máy tính, truyện tranh, công nghệ…BoingBoing tiếp tục hút khách và có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc. Trang chủ boingboing.net

2. I Can Has Cheezburger?- 5.600 USD/tháng

Chỉ mới ra mắt hơn 2 năm (tháng 01-2007), I Can Has Cheezburger hiện kiếm được 5600 USD/tháng, dựa vào tỉ lệ truy cập mà blog này công bố. Những khoảnh khắc thú vị của các chú mèo đã giúp Cheezburger tăng lượng truy cập lên gấp đôi mỗi tháng. Cheezburger hiện có khoảng nửa triệu page views mỗi ngày.

Eric Nakagawa, tác giả của blog từng là một lập trình viên phần mềm đã quyết định bỏ hẳn công việc chuyên môn đã được đào tạo chỉ để tập trung chăm sóc cho Cheezburger. Thông qua đối tác Blogads, Cheezburger bán quảng cáo với mức khá cao. Một ví trị trên Cheezburger có giá 500 USD mỗi tuần. Thậm chí có những vị trí Cheezburger chào giá với mức 5400 USD/một tuần.

Cheezburger cũng bán quảng cáo thông qua Google AdSense và AdBrite. Hiện Cheezburger xếp thứ 26 trong số những blog được đặt liên kết nhiều nhất trên Technorati. Trang chủ icanhascheezburger.com

3. ShoeMoney 12.000 USD/tháng

Còn cách nào tốt hơn để kiếm tiền trực tuyến bằng chính việc xây dựng một blog chuyên cung cấp thông tin, cách thức thực hiện việc này. Ra mắt 10-2005, Jeremy Schoemaker, blogger 33 tuổi đã phát triển ý tưởng này một cách rất thành công. Chỉ cần dành mỗi ngày nửa giờ viết bài, blog của Jeremy Schoemaker vẫn thu hút được 20.000 lượt truy cập, đồng nghĩa 12.000 USD mỗi tháng.

ShoeMoney còn trở thành nền tảng để Schoemaker mở rộng cơ hội kinh doanh. AuctionAds, dịch vụ bán quảng cáo cho các trang đấu giá như eBay và các trang liên quan cùng với NextPimp.com, trang web bán nhạc chuông là những sản phẩm khác thuộc sở hữu Schoemaker mới là “nồi cơm” chính của anh. Doanh thu từ blog chỉ chiếm 3%. Nhưng nhờ vào chính ShoeMoney, vốn được xếp vào top 100 blog do Technorati bầu chọn, khách hàng đã tìm đến và tin tưởng hơn vào sản phẩm do Schoemaker sáng tạo và phát triển. Trang chủ shoemoney.com

4. Overheard in New York- 8.100 USD/tháng

Ra mắt 07-2003, Overheard in New York là đứa con tinh thần của Morgan Friedman, một kĩ sư phần mềm cùng 5 tác giả khác làm việc part-time. Đúng như tiêu đề blog, Overheard in New York đăng tải những nhận xét của bạn đọc giấu tên về những chuyện tầm phào, vui vẻ… hút khách. Ngay từ khi mới ra mắt, Overheard in New York đã tiềm ẩn khả năng sinh lời. Hiện giá quảng cáo do Blogads phân phối dao động từ mức 375 tới 6000 USD.

Overheard có 6 triệu page view mỗi tháng. Một cuốn sách lấy nội dung từ blog cũng đã được xuất bản. Sau thành công ban đầu, Overheard phát triển thành một mạng độc lập với 4 mảng: Overheard at the Office, Overheard at the Beach, Overheard Everywhere, và Celebrity Wit. Khách hàng ruột của Overheart là giới trẻ. Trang chủ overheardinnewyork.com

5. Kottke.org – 5.300 USD/tháng

Tự học hỏi để trở thành một nhà thiết kế web, Jason Kottke bắt đầu viết blog từ 1998 trên 0sil8, chuyên về thiết kế. Một năm sau, Kotter “chuyển nhà” về địa chỉ hiện tại. Hiện với khoảng 250.000 đến 300.000 lượt truy cập, Kotter kiếm được khoảng 5.300 USD mỗi tháng. Kottke.org cũng nằm trong 100 trang blog có liên kết tới nhiều nhất trên Technorati. Đối tượng độc giả của blog này chủ yếu là các nhà thiết kế. Kottke vẫn đang tiếp tục chinh phục độc giả bằng phong cách tổ chức chuyên nghiệp. Với blogger này, kiếm tiền không phải là mục tiêu hàng đầu. Phương châm hoạt động của Kottke vẫn là “cung cấp một địa chỉ thú vị với những dịch vụ hữu ích trên mạng, nhưng chỉ nhằm vào một nhóm nhỏ độc giả”. Trang chủ kottke.org

6. TalkingPointsMemo- 45.000 USD/tháng

Josh Marshall, chủ nhân của blog đã khởi nghiệp với những bài viết đầu tiên về chính trị. Ra mắt năm 2000, Marshall đã nhanh chóng thành lập một công ty truyền thông để quản lí TalkingPointsMemo. Với đội ngũ 6 phóng viên- biên tập viên, TalkingPointsMemo nổi tiếng với những câu chuyện mà các báo hàng ngày vẫn tránh đưa tin. Từ cuộc bầu cử 2004 (Mĩ), TalkingPointsMemo bắt đầu chuyển hướng hoạt động, trở thành địa chỉ quen thuộc cho những ai muốn đọc bình luận, phân tích về các bài viết của báo giới chính thống. Blogads trở thành đối tác quảng cáo từ 2003.

Với khoảng 500.000 page view mỗi tuần, hiện TalkingPointsMemo vẫn đang kiếm được khoảng 45.000 USD mỗi tháng. Trang chủ talkingpointsmemo.com

7. Perez Hilton – 111.000 USD/tháng

Đây là blog chuyên “kinh doanh” hình ảnh của các ngôi sao Hollywood bằng những tin tức nỏng hổi xoay quanh đời sống của các nhân vật giải trí nổi tiếng. Tác giả của blog hiện vẫn nổi danh là một anh chàng chăm chỉ, với khoảng 20 bài viết mỗi ngày. Mario Lavandeira tâm sự: “Các nhà quảng cáo tìm tới tôi vì blog của tôi thu hút được rất đông lượng truy cập. Sở dĩ có được điều ấy vì tôi là một tay blogger chăm chỉ”. Theo thống kê của Lavandeira, hiện Perez Hilton thu hút được khoảng 4 triệu lượt truy cập mỗi ngày. Ước tính, 3 banner quảng cáo trên blog giúp Lavandeira thu về mỗi ngày khoảng 40.000 USD. Hiện Lavandeira đã duy trì blog được 5 năm. Trang chủ perezhilton.com

8. Gothamist – 50.000-60.00 USD/tháng

Ban đầu là một blog “sạch”, Gothamist dần trở thành “nồi cơm” cho những blogger nhạy bén, giàu sức sáng tạo. Hiện, Gothamist đã trở thành một mạng tin tức, có nguồn từ các blog địa phương ở 14 thành phố khác nhau khắp các lục địa. Jake Dobkin, tác giả và đồng sáng lập cùng với người bạn, hiện là biên tập viên Jen Chung đã bắt đầu nhận ra khoản doanh thu đáng kể từ ý tưởng của mình. Thậm chí, cả hai phải thuê nhân viên bán quảng cáo cùng đội ngũ biên tập viên làm việc toàn thời gian ở 5 thành phố, một số biên tập viên khác làm part-time và đội ngũ cộng tác viên đông đảo góp bài.

Mỗi ngày, nhóm làm việc đăng tải khoảng 20 đến 25 bài trên các trang nổi tiếng nhất của mình, nhằm duy trì đều đặn khoảng 7 triệu page view mỗi tháng. Các nhà quảng cáo rất ưa hệ thống trang tin của Gothamist với đối tượng độc giả có trình độ, trẻ và thường giàu có. Hiện Gothamist đã có tuổi đời 6 năm. Theo sáng lập viên Dobkin, điểm mạnh của Gothamist chính là ở cả một mạng lưới tin tức tổng hợp theo vùng địa lý mà “các nhà xuất bản, blogger độc lập hay kể cả các mạng blog khác không có được”. Trang chủ có địa chỉ gothamist.com và 13 trang khác trong mạng có “đuôi” ist.

9. TechCrunch – 200.000 USD/tháng

Đây là một trong số các blog luôn đứng đầu danh sách bình chọn của Technorati. Chỉ mới ra đời cách đây 4 năm, TechCrunch mau chóng trở thành địa chỉ “hot” với giới công nghệ. Chưa đầy 1 năm từ ngày khởi nghiệp với blog, Michael Arrington, chủ nhân của TechCruch đã phải từ bỏ công việc chuyên môn để dành toàn tâm toàn ý cho đứa con tinh thần. Arrington bắt đầu mở rộng sản phẩm, khi giới thiệu một số blog mới về các chủ đề công nghệ chuyên sâu như thiết bị, điện thoại. Thậm chí Techcruch cũng bắt đầu ra mắt những chuyên trang bản ngữ dành cho Anh, Pháp và Nhật.

Federated Media hiện là đối tác bán quảng cáo cho Techcruch. Với 5 triệu page view mỗi tháng, số tiền kiếm được từ quảng cáo của Techcruch là tương đối khấm khá “Đối tượng hợp tác quảng cáo của chúng tôi là những ai muốn tiếp cận với độc giả sành công nghệ và thường sớm nhanh nhậy với các sản phẩm mới”. Song song với việc bán quảng cáo, Techcruch cũng tìm cách kiếm thêm doanh thu bằng việc tổ chức các hội thảo chuyên đề. Trang chủ techcrunch.com

10. Go Fug Yourself – doanh thu 6240 USD/tháng
Sau khi gặt hái thành công với nghề mới, Heather Cocks và Jessica Morgan, 2 tác giả blog đã quyết định bỏ công việc trên truyền hình để dành toàn tâm trí cho Go Fug Yourself. Công việc bếp núc hàng này của 2 blogger này là lấy ảnh từ các sự kiện, nhân vật trong giới showbiz, thêm bình luận và…xuất bản. Kết quả là, mỗi tháng Go Fug Yourself thu hút được 3,5 triệu lượt khách truy cập. Hệ thống quảng cáo được giao cho Blogads. Một dòng quảng cáo trên Go Fug Yourself là 60 USD trong vòng 1 tuần. Những banner sang trọng ở vị trí đắt nhất được bán với giá 3000 USD. Cocks cho hay: những ý tưởng tầm phào ban đầu khi tán róc với người bạn cách đây 2 năm đã hình thành nên công ty ngày hôm nay. Trang chủ gofugyourself.typepad.com

11. Mashable- 166.000 USD/tháng

Pete Cashmore khởi nghiệp viết lách với Mashable 2 năm trước đây. Hiện, anh dành toàn tâm trí cho việc phát triển đứa con tinh thần: “Quả là các blogger không có thời gian để ngủ.” Mashable được xếp thứ 15 theo đánh giá của Technorati. Mục tiêu của blog này là tập trung vào mạng xã hội và các xu hướng trực tuyến khác. Với 4 triệu page view mỗi tháng, Cashmore khẳng định, blog của anh là một trong số những địa chỉ được truy cập đông nhất giữa các blog cùng chủ đề. Tuy nhiên, ban đầu, Cashmore không có ý định sẽ sống nhờ vào Mashable. Hiện Federated Media là đối tác bán quảng cáo cho blog. Trang chủ mashable.com

12. Problogger – 100.000 USD/năm

Tác giả của Problogger là Darren Rowse với một loạt blog khác nhau. Không tiết lộ chi tiết thu nhập nhưng qua 6 hệ thống bán quảng cáo mà anh đang “nhờ vả” trong đó có Chitika, Google AdSense, Text Link Ads, và Amazon Associates, ước tính, ít nhất mỗi năm Rowse cũng có thể kiếm được tấm séc 5 con số. Rowse dành sự quan tâm cho hàng loạt chủ đề như tôn giáo, ảnh số, máy chụp hình, Olymics, viết blog. Trang chủ problogger.net

13. Michelle Malkin và Hot Air – doanh thu: không tiết lộ

Với 220.000 khách truy cập mỗi ngày, nữ tác giả của blog, Michelle Malkin vẫn phải hàng ngày lo sốt vó vì tình trạng băng thông tốn kém. Hot Air là blog chuyên đăng tải các video “cây nhà lá vườn”. Cùng với một nhóm cộng tác, Malkin vẫn đang “sống khỏe” nhờ vào sự chăm chỉ và óc sáng tạo, bất kể những tốn kém khi khởi nghiệp. Mặc dù không tiết lộ khoản thu nhập kiếm được từ blog, tờ Businessweek vẫn đánh giá rất cao tiềm năng của Michelle Malkin và Hot Air. Trang chủ michellemalkin.com và hotair.com.

Nhật Vương

10 câu nói bất hủ của Bill Gates

Trước khi về hưu vào đầu tháng 7 năm 2008, Bill Gates – ông chủ của tập đoàn máy tính lớn nhất thế giới Microsoft – đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp.

1. Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó.
(Sở dĩ như vậy là một mình bạn sẽ không thể nào làm thay đổi được sự bất công trong xã hội)

2. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên.
(Lòng tự trọng quá cao sẽ tỷ lệ thuận với sự bất lợi trong công việc của bạn)

3. Thường thì bạn sẽ không thể trở thành CEO nếu chỉ mới tốt nghiệp trung học. Nhưng khi bạn đã trở thành một CEO thì không còn ai để ý là bạn mới chỉ có tốt nghiệp trung học nữa.
(Lúc này người ta sẽ đánh giá và quan tâm nhiều đến năng lực hơn là bằng cấp của bạn)

4. Khi bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong công việc thì đừng có oán trách số phận. Điều bạn học được khi gặp trắc trở chính là kinh nghiệm và bài học để lần sau không bao giờ mắc phải nữa.
(Điều cần làm lúc này là trấn tĩnh và bắt tay làm lại từ đầu)

5. Nên hiểu một điều rằng: Trước khi có bạn, bố mẹ bạn không phải là những người “chán ngắt, vô vị” như bạn của ngày hôm nay đã nghĩ. Đây chính là cái giá rất lớn mà bố mẹ đã phải trả cho sự trưởng thành của bạn.
(Bạn phải có nghĩa vụ đền đáp công ơn với những người đã dành cả cuộc đời mình cho sự sống và trưởng thành của bạn)

6. Khi đi học, bạn đứng thứ mấy trong lớp cũng không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi đã bước chân ra xã hội thì mọi việc lại không đơn giản như vậy. Dù đi đâu hay làm công việc gì bạn cũng nên tạo đẳng cấp cho mình.
(Luôn tự nhủ rằng bạn sẽ luôn là người đứng đầu, như vậy bạn sẽ có động lực và tinh thần nhiều hơn cho sự nghiệp của bản thân)

7. Khi đi học, bạn luôn mong chờ đến ngày nghỉ lễ, Tết. Khi đi làm thì hoàn toàn không giống vậy, dường như là bạn sẽ không được nghỉ ngơi. Công việc sẽ cuốn bạn đi bất cứ lúc nào kể cả ngày nghỉ.
(Nếu là một nhân viên luôn mong chờ ngày nghỉ lễ thì bạn sẽ bị lạc hậu hơn so với những nhân viên khác. Sự lạc hậu này còn luôn đồng hành với sự đào thải và thất nghiệp).

8. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên thì bạn đừng nên đi làm sau khi tốt nghiệp. Đơn giản nếu như không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty thì chắc chắn bạn sẽ không làm được gì và sẽ nhanh chóng thất nghiệp, hơn nữa lúc này sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.
(Nên nhận thức được rằng: Công ty sẽ luôn yêu cầu cao hơn rất nhiều so với trường học. Vì ở trường học, dù bạn có học được hay không thì chỉ ảnh hưởng đến cá nhân bạn. Còn ở công ty bạn có làm được việc hay không thì lại ảnh hưởng đến rất nhiều người)

9. Mọi người đều thích xem phim truyền hình, nhưng bạn không nên xem nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn. Vì công việc ở công ty mới phản ánh cuộc sống thực của bạn.
(Bạn không nên xem nhiều vì tư tưởng của bạn sẽ bị ảnh hưởng bởi những bộ phim truyền hình đó. Cuộc sống của bạn nên do bạn quyết định)

10. Không bao giờ phê bình người khác sau lưng của họ, đặc biệt đừng bao giờ phê phán sếp là người không có năng lực, điều này là không đúng.
(Nếu bạn có thắc mắc gì trong công việc thì nên nói ý kiến của mình trước mặt mọi người. Còn nếu như bạn luôn giữ thái độ và hành động phản kháng sau lưng người khác thì chỉ có bất lợi cho bạn mà thôi).

Theo VNN

4 thói quen của các triệu phú

Các triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày như chúng ta, cũng sống dưới một bầu trời và hít chung một bầu không khí, vậy tại sao họ giàu còn chúng ta thì không?

Các triệu phú lạc quan về nền kinh tế thế nhưng không giống như phần đông chúng ta, họ không tiêu sạch tiền vào thứ vô bổ như trò chơi điện tử hay đồ ăn thức uống vặt vãnh.

Thay vào đó, họ quan tâm đến việc giữ tiền và kiếm thêm tiền.

Một khảo sát được thực hiện với triệu phú Mỹ gần đây cho người ta thấy triệu phú làm gì với tiền của họ trong năm nay.

Ưu tiên quan trọng nhất là họ sẽ trả bớt nợ và tiết kiệm tiền. Một triệu phú trong năm qua trung bình tiết kiệm được 39 nghìn USD và họ có kế hoạch sẽ tiết kiệm nhiều hơn trong năm nay.

Tuy nhiên họ cũng vẫn muốn đặt cược vào đà phục hồi kinh tế. Khoảng 45% cho biết họ sẽ đầu tư vào thị trường chứng khoán. 58% quan tâm đến lĩnh vực công nghệ; 48% quan tâm đến dược và 47% muốn đầu tư vào lĩnh vực y tế.

Sự quan tâm đối với vàng chưa chấm dứt: 41% muốn đầu tư vào vàng và 24% xem xét cơ hội đầu tư vào các kim loại quý khác.

Tuy nhiên các triệu phú chưa hết bi quan; 81% cho rằng họ không tin suy thoái kinh tế đã qua đi và chỉ duy nhất 2% tự coi mình trong nhóm nhà đầu tư táo bạo.

Quy tắc này không chỉ áp dụng với việc chi tiền mà còn trong cuộc sống và cách điều hành công việc kinh doanh.

Quản lý thời gian hiệu quả

Triệu phú cũng chỉ có 24 tiếng/ngày giống chúng ta thế nhưng việc họ sống và điều hành công việc kinh doanh thế nào cũng đáng quan tâm. Họ quản lý thời gian tốt hơn chúng ta. Trong khi phần lớn chúng ta về nhà và ngồi lì trước tivi, người giàu có đọc sách và làm những việc đóng góp cho thành công của họ trong tương lai.

Từ khi còn là một học sinh cấp 2 ở Seattle, Bill Gates thường rời nhà vào buổi đêm và cuối tuần để đến phòng máy tính. Ông làm lập trình từ khi học lớp 8. Ông không dành suốt khoảng thời gian rỗi rãi thời niên thiếu để xem tivi và mơ học môn khoa học máy tính tại trường đại học. Ông dành thời gian làm việc thực tế trên máy tính.

Cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi sau này ông bỏ ngang đại học Harvard để khởi nghiệp với Microsoft, ông đơn giản chỉ luôn đi trước mọi người.

Steve Jobs, sáng lập viên của Apple trong bài phát biểu tại đại học Stanford vào năm 2005, đã cho mọi người biết về lịch hoạt động của ông và khẳng định ông luôn biết làm tất cả những gì cần thiết.

Jobs nói: “Khi tôi 17 tuổi, tôi biết đến câu nói nếu mỗi ngày bạn sống như thể đó là ngày cuối cùng trong cuộc đời, bạn sẽ thành công. Câu nói đó gây ấn tượng mạnh mẽ dến tôi và trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương và tự hỏi: có phải ngày cuối cùng của mình đã đến và mình sẽ làm gì hôm nay? Khi tôi đưa ra quá nhiều câu trả lời không, tôi hiểu tôi cần phải thay đổi điều gì đó.”

“Đừng bao giờ mút ngón tay”

Người giàu cũng hết sức quyết đoán.

Tỷ phú Warren Buffett đã từng khẳng định: “Đừng bao giờ mút ngón tay. Ở thời điểm nào đó, bạn cần phải dừng suy nghĩ tính toán lại và bắt đầu hành động.”

Hãy biết thu thập thông tin cần thiết trước người khác để đưa ra quyết định và nhờ mọi người theo dõi, nhắc nhở việc tuân thủ lịch trình để đảm bảo nó không đi chệch hướng.

Ông luôn đưa ra quyết định nhanh và trung thành với nó.

Theo ông, hành động chờ thời cơ và suy nghĩ linh tinh là “mút ngón tay”. Bất cứ khi nào được mời hợp tác làm ăn, ông đều trả lời: “Tôi không phản đối nếu bạn đưa ra biểu giá cụ thể.”

Hạn chế vay mượn

Người sống bằng tiền vay mượn và thẻ tín dụng sẽ không thể giàu được. Vì vậy, Warren Buffett không bao giờ vay khoản tiền lớn để tiêu dùng hay đầu tư.

Ông rất ghét thế chấp. Ông cho biết đã nhận được không ít lá thư từ nhóm người tưởng họ quản lý được nợ nần nhưng sau đó lại khốn khổ vì nó. Buffett khuyên chỉ nên mượn số tiền mà bạn có thể trả và đầu tư bằng tiền tiết kiệm của chính mình.

Luôn kiên trì

Với sự nhẫn nại và khéo léo, bạn sẽ có thể chiến thắng mọi đối thủ. Warren Buffett mua siêu thị đồ nội thất Nebraska Furniture Mart vào năm 1983 bởi thích phong cách kinh doanh của người chủ Rose Blumkin.

Là một người Mỹ gốc Nga, bà đã biến một cửa hiệu cầm đồ nhỏ thành cửa hàng trang trí đồ nội thất lớn nhất Bắc Mỹ.

Bà luôn bán hàng thấp hơn giá của các cửa hàng khác và mặc cả đến cùng giá mua vào.

Bà được coi như hiện thân của lòng can đảm và cố gắng đến cùng để chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt.

Nguồn CafeF