Học gì từ Bill Gates?

Sau ngày làm việc cuối cùng của Bill Gates tại Microsoft. Một số người thở phào vì đã loại bỏ được một đối thủ cạnh tranh nặng ký. Nhưng có rất nhiều điều những người trẻ tuổi có thể học hỏi từ một trong những doanh nhân thành công nhất trong thời đại của chúng ta.

Tập trung: Hơn 30 năm qua, Bill Gates đã chứng minh tầm quan trọng của sự rõ ràng, mạch lạc trong suy nghĩ và hành động. Không giống những người cùng thời, ông không bao giờ rời xa thứ mà ông hiểu rõ hơn bất kỳ thứ gì khác: phần mềm. Ông đã theo đuổi mục tiêu thống trị lĩnh vực phần mềm. Đầu tư vào lĩnh vực mới có thể hợp thời và đúng phong trào, nhưng mức độ rủi ro cũng rất cao. Nếu bạn cần một ví dụ điển hình về cái gọi là “khả năng tập trung vào thứ mình hiểu rõ”, thì Bill Gates và Microsoft chính là thứ bạn đang tìm kiếm. Tập trung cũng có nghĩa là khả năng theo đuổi mục tiêu một cách kiên định cho dù gặp phải bất kỳ trở ngại nào. Mức độ kiên nhẫn này không phải dễ dàng có được.

Dám nghĩ: Cùng với khả năng tập trung, khả năng ước mơ lớn và theo đuổi những ước mơ đó với lòng quyết tâm sắt đá đã hình thành lên một Bill Gates hoàn toàn khác so với các doanh nhân cùng thời. Các doanh nhân cần phát triển sự tự tin tối đa để có thể gánh vác cả thế giới và trở thành người chiến thắng.

Say mê: Bill Gates đơn giản chỉ nghĩ rằng, nếu có bất kỳ việc gì đáng làm, thì việc đó cũng đáng được làm thật tốt. Từ lời cảm ơn đơn giản tới lời đề xuất phức tạp, đảm bảo sự thành công cho bất kỳ việc gì mình làm chính là điểm mấu chốt. Nhu cầu cải tiến liên tục là thứ tương đối quan trọng. Thay đổi là hằng số duy nhất và chúng ta càng thích ứng và lanh lợi trước sự thay đổi, chúng ta càng có nhiều cơ hội thành công.

Học tập không ngừng: Mặc dù bỏ học giữa chừng khi đang học đại học để thực hiện ước mơ, nhưng Bill Gates có lẽ đã đọc nhiều hơn hầu hết chúng ta đã từng và sẽ đọc. Trong quá trình học tập, ông đã cho thấy những hạn chế của giáo dục chính quy. Giáo dục chính quy quả là rất quan trọng, nhưng có lẽ việc nhận thức rằng học tập là cả một quá trình lâu dài còn quan trọng hơn. Kiến thức là vô tận. Thậm chí cả khi chúng ta học tập không ngừng nghỉ suốt cuộc đời, nhiều khi chúng ta vẫn chỉ có thể hiểu được một phần nhỏ của biển kiến thức mênh mông. Kiến thức cần phải dẫn tới sự khiêm tốn và tính khôn ngoan – không kiêu ngạo và giành, giữ lợi thế với người khác.

Trả ơn xã hội: Quỹ Bill & Malinda Gates đưa ra một khía cạnh mới về lòng nhân đức bằng cách đi thẳng vào những vấn đề mang tính toán cầu: bệnh sốt rét, ung thư và AIDS. Cảm thấy tâm hồn thanh thản khi làm việc thiện dường như đã trở lên lỗi thời nhưng điều này có thể là cách tốt nhất để đẩy mạnh cuộc chiến chống lại những bệnh tật đã cướp đi sinh mạng hoặc làm tổn thương hàng triệu người mỗi năm. Bạn bè ông và tỉ phú Warren Buffet cũng cùng tham gia, góp phần làm cho cuộc đấu tranh mạnh mẽ hơn. Bill Gates đã thể hiện một mức độ kiên định đáng nể trọng cả trong các mục tiêu kinh doanh lẫn các mục tiêu từ thiện – ông thực sự là một công dân toàn cầu.

Trên thực tế, chỉ có 5% nguồn của cải giàu có của 200 người giàu nhất có thể dùng để loại bỏ một số những vấn đề cấp thiết nhất mà nhân loại đang phải đối mặt. Sự giàu có không nên chỉ hiểu theo khía cạnh xây dựng được những ngôi nhà chói lọi nhất mà còn là sự theo đuổi một mục đích tốt đẹp hơn, tốt đẹp cho bản thân và cho cả nhân loại.

Với bất kỳ một cá nhân thành công hay xuất sắc nào, luôn có rất nhiều vấn đề xung quanh họ khiến báo giới, các phương tiện thông tin đại chúng tốn nhiều giấy mực và thời gian tranh luận. Trong kỷ nguyên hiện đại, sự khác biệt giữa cách thức thực hiện và mục đích cần đạt được đang ngày càng trở lên mờ nhạt. Một số người có thể không tán thành với cách Bill dùng để đạt được thứ ông đã có, nhưng người ta cũng khó có thể phủ nhận những đóng góp của ông cho ngành công nghệ thông tin.

Tuy nhiên, lịch sử và hậu thế có thể sẽ nhớ tới những gì ông quyết định làm – ở tuổi đời còn tương đối trẻ – trong phần còn lại của cuộc đời ông. Cuộc chiến chống đói nghèo, bệnh tật và đem giáo dục đến cho người nghèo thực sự là những mục tiêu cao cả đáng được bất kỳ ai quan tâm tới nhân loại và chất lượng cuộc sống trên hành tinh này đẩy mạnh. Về vấn đề này, không thể có cá nhân nào tiêu biểu và xứng đáng tôn vinh hơn Bill Gates.

(sưu tầm)

Google chia sẻ kinh nghiệm thành công

Sự thành công của Google khiến không ít người giật mình, nhưng cũng chính từ triết lý và mục tiêu mà gã khổng lồ tìm kiếm đang theo đuổi, chúng ta có thể học được khá nhiều điều.

Ken Auletta, tác giả của cuốn Googled: The end of the world as we know it, đã chia sẻ với độc giả CNN những điều tâm đắc của mình sau chuyến hành trình khám phá lịch sử Google.

1. Quyết tâm giành chiến thắng đến cùng

Hãy bắt đầu với lời khuyên của Larry Page dành cho các doanh nghiệp khi phát biểu tại Đại học Stanford, trước các tân sinh viên mới tốt nghiệp “Đừng tự bằng lòng”. Quyết tâm, lòng quả cảm này đã trở thành động lực để Page và Serget Brin truyền cảm hứng cho toàn bộ nhân viên Google sẵn sàng với phương châm “phục vụ tối đa lợi ích của người dùng”, chấp nhận những mạo hiểm mới, sẵn sàng cải tiến triệt để công cụ tìm kiếm.

Michael Moritz, nhà đầu tư từng rót tiền cho cả Yahoo và Google, chia sẻ với Ken Auletta, Google là một công ty “hiếm có”: “Với Yahoo, tôi là một đối tác thân cận từ lâu, ở đấy tôi có rất nhiều cảm xúc và muốn được duy trì tình cảm lâu dài. Nhưng từ khi đến với Google, tôi bắt đầu nhận ra rằng công ty này rất khác so với Yahoo. Nó được hình thành từ những nghiên cứu mày mò của các nhà sáng lập. Trong khi đó, Yahoo do Jerry và David xây dựng, từ niềm yêu thích cá nhân. Đó là một sự khác biệt rất lớn”.

Thiếu niềm say mê, Moritz chia sẻ, chính là lý do khiến Jerry Yang và David Filo không dành trọn thời gian làm việc cho công ty mà cả hai đã tạo lập.

2. Tập trung vào mục tiêu nhất định là chìa khóa

Có niềm say mê mà không định hướng sẽ dẫn tới lạc đường. Bill Campbell, người đứng đầu hãng phần mềm Intuit, sau khi dành nhiều ngày tham quan trụ sở của gã khổng lồ phần mềm đã chia sẻ rằng: thành công của Google chính là biết “đam mê một cách tập trung”. Có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của yếu nhân thứ ba ở Google, CEO Schmidt. Mặc dù là người đến sau nhưng Schmidt đã đóng góp một cách đáng kể vào lộ trình phát triển và thành công của Google như ngày nay.

3. Nhìn xa trông rộng

Nếu không có tầm nhìn, những kế hoạch đã lên sẽ đi vào ngõ cụt. Không ít lần người dùng Internet đã trương những khẩu hiệu hi vọng và mong mỏi Google không trở thành những “con quỷ” như các đại gia công nghệ khác. Trong khi đó, với mục tiêu ban đầu là mang thông tin của toàn thế giới đến tận tay người dùng, Page và Brin đã nỗ lực và luôn tâm niệm: đầu tiên và quan trọng nhất là phục vụ “thượng đế”.

Từ định hướng ấy, Google đã trở thành công cụ nhanh chóng chiếm lĩnh niềm tin của hàng triệu người dùng, khi giúp họ tìm kiếm thông tin trên mạng, tin tức, sách, âm nhạc… Google cũng sẵn sàng nói “không” với những quảng cáo chẳng ăn nhập gì với thông tin tìm kiếm của khách hàng. Đưa ra những lựa chọn tốt nhất, rẻ và tiện dụng, từ tìm kiếm thông tin, lưu trữ trực tuyến, email và lịch, Google đang theo đúng định hướng ban đầu là phục vụ người dùng.

4. Trí tuệ tập thể là yếu tố sống còn

Google dành cho nhân viên 20% thời gian làm việc để họ tự lên kế hoạch, tìm giải pháp lựa chọn của riêng mình. Hướng tới mã mở, chọn giải pháp cuối cùng dựa vào trí tuệ tập thể, Google đã tạo nên một môi trường làm việc được tổ chức, quản lý khoa học, hệ thống từ trên xuống dưới. Do đó, cỗ máy tìm kiếm luôn được cải tiến và đế chế Google không ngừng mở rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.

Larry Page láu lỉnh chia sẻ: “Mỗi công ty đều có đặc thù riêng, ngay cả với những công ty về công nghệ. Chắc chắn là bạn cũng muốn công ty của mình có nét văn hóa doanh nghiệp, trong đó mọi người làm việc, các nhà khoa học và kỹ sư được trao quyền quyết định, đề xuất. Tất cả được quản lý bởi những người am hiểu sâu sắc nhân viên của mình, biết họ đang làm gì”.

5. Coi trọng các kỹ sư – nhân viên

Ở thung lũng Silicon, các kỹ sư được ví như những người tổ chức chương trình truyền hình, đạo diễn điện ảnh hoặc thậm chí là các nhà văn. Họ thật sự là những người sáng tạo. Ở Google, các kỹ sư được dành riêng 20 % thời gian lao động để tự do phóng túng với những ý tưởng sáng tạo, đeo đuổi say mê cá nhân.

Do đó sự sáng tạo, nền tảng cho những bước đường thành công của Google, đã nảy sinh trong khi các kỹ sư đang thỏa sức làm việc. Có thể nói coi trọng nhân viên, đội ngũ lao động đòi hỏi sự sáng tạo, chính là nhân tố quan trọng nhất quyết định tới sự phát triển của một công ty.

Google đã thành công với phương án “lạt mềm buộc chặt”. Không phải ngẫu nhiên mà Page và Brin, Schmidt dành rất nhiều thời gian mỗi tuần để gặp gỡ, trao đổi với các kỹ sư. Với hầu hết các công ty truyền thông truyền thống, đội ngũ kỹ sư hiếm khi được coi trọng đến thế.

6. Khách hàng là thượng đế

Lý do quan trọng giúp Google bay cao, trở thành một trong số các thương hiệu đáng tin cậy nhất thế giới chính bởi vì gã khổng lồ luôn coi khách hàng là thượng đế. Quảng cáo trực tuyến có thể mang đến 97% doanh thu cho Google, nhưng dường như người dùng chẳng bận tâm gì tới điều này. Các dịch vụ của Google vẫn hoàn toàn miễn phí, thân thiện, dễ dùng, giống như nghe nhạc trên iPod vậy.

Thời đang còn là sinh viên trường đại học danh tiếng Stanford, Larry Page đã may mắn đọc được cuốn sách The design of everyday things của Donald A. Norman. Bài học cũ đã được ông chủ Google áp dụng triệt để và thành công vang dội, đó chính là xây dựng những hệ thống dịch vụ có thể giành được niềm tin của khách hàng, theo một cách hoàn toàn tự nhiên.

Để hiểu Google đã giành được niềm tin của khách hàng ra sao, hãy trở lại thời điểm phát hành trái phiếu lần đầu ra công chúng năm 2004. Google khẳng định đi khẳng định lại: “Hãng tin rằng người dùng cũng muốn góp phần vào sự thành công lâu dài của Google. Đó chính là cơ sở quan trọng để tạo dựng giá trị niềm tin lâu dài.”.

Tập trung vào người dùng, Page và Brin đã vạch định những nguyên tắc tổ chức dành cho đội ngũ nhân viên với châm ngôn của Sam Walton: “Nếu bạn không lắng nghe khách hàng của mình, chắc chắn sẽ có đối thủ khác làm điều ấy.”

7. Tất cả mọi đối thủ đều có thể là đối tác

Đôi khi không dễ dàng gì nhận diện được đâu là một đối thủ tiềm ẩn, bạn và thù. Trên thương trường càng phức tạp hơn. Khởi nghiệp là một bộ máy tìm kiếm, nhưng Google nhanh chóng nhận ra hãng có thể bán quảng cáo một cách hiệu quả, cung cấp tin tức hay hỗ trợ tìm kiếm sách, sử dụng nền tảng cơ sở phát triển dịch vụ điện toán đám mây, chen chân vào thị trường video trực tuyến sau khi mua lại Youtube, ngoài ra cũng không thờ ơ với miếng mồi thiết bị di động.

Chương trình quảng cáo Google AdSense đã giúp hàng trăm tờ báo điện tử sống sót, còn AdWord mở ra cơ hội quảng bá cho các đối tác. Youtube trở thành địa chỉ hỗ trợ các mạng TV, Android cung cấp phần mềm hệ điều hành cho hàng loạt hãng viễn thông.

Tham vọng nhưng Google không ngừng củng cố niềm tin khách hàng, tranh thủ mọi cơ hội để trở thành đối tác của tất cả các đối thủ, vừa hợp tác vừa cạnh tranh.

8. Đừng quá tự tin vào… máy móc

Google thành công trong việc giành niềm tin khách hàng, xây dựng văn hóa làm việc theo nhóm, đồng thời có chiến lược phát triển lâu dài. Nhưng cũng không ít lần Google đã thất bại trong nỗ lực cải tiến thế giới theo những cách… khác người!

Page đã lầm khi cho rằng Google có thể ngay lập tức số hóa được kho sách của nhân loại, cũng như ý tưởng, giải pháp quảng cáo mới để bán quảng cáo tốt hơn trên báo và radio. Cả hai nỗ lực này vẫn đang trục trặc.

Nhiều lần Google tỏ ra thiếu khéo léo để có thể tránh được hàng loạt vụ tranh chấp, “dính chàm” với vấn đề bản quyền, thông tin riêng tư cá nhân hay trục trặc với cơ quan chức năng.

9. Chẳng có gì là thập toàn thập mỹ

Ngày nay, dường như rất khó có thể đánh bại được Google. Nhưng một thập kỷ trước AOL mới là số một.

Do đó chẳng có gì là chắc chắn. Nên nhớ IBM từng một thời chiếm tới 70 % thị trường PC toàn cầu. Sau khi Chính phủ Mỹ vào cuộc, IBM bắt đầu gặp hàng loạt trục trặc, nhất là với sự xuất hiện của rất nhiều đối thủ khác đáng gờm. IBM đã mất hút từ lâu trên thị trường PC.

Hẳn Google cũng hiểu rõ điều này. Hãng đã đổ rất nhiều tiền vào hàng loạt lĩnh vực khác ngoài tìm kiếm trực tuyến, nhất là Youtube, Android và điện toán đám mây. Bài học từ AOL và IBM vẫn còn đó.

10. “Cuộc đời thì dài nhưng thời gian lại ngắn ngủi.”

Đó là những gì CEO Schmidt chia sẻ. Theo ông, cuộc đời quả là dài khi chúng ta có những ký ức không phai. Nhưng thời gian lại rất ngắn ngủi, chúng ta vẫn phải tận dụng từng giây phút một. Theo Schmidt, tất cả mọi khó khăn đều có thể trở thành một cơ hội.

Đó cũng là lý do vì sao Google, như từ trước đến nay vẫn thế, không ngừng mạo hiểm đầu tư, phát triển dịch vụ ở nhiều lĩnh vực khác nhau để tiến lên, không “neo đậu” theo những kí ức thành công nào đó.

NHẬT VƯƠNG (Theo CNN)

Các blogger kiếm tiền giỏi nhất thế giới

“Thế giới phẳng” đã mở ra cơ hội kiếm được những công việc “độc” cho nhiều người. Viết blog cũng vậy. Đề tài để các blogger có thể lựa chọn làm thế mạnh rất phong phú. Có blog chuyên đăng tải những bức ảnh thú vị về các chú mèo, có blog cập nhật tin mới về các ngôi sao giải trí, blog khác chuyên luận bàn về chủ đề chính trị, có blog chuyển tải tin tức công nghệ… Lượng truy cập của độc giả càng lớn bao nhiêu, số tiền nhận được của blogger càng có cơ hội cao hơn bấy nhiêu.

Sau đây là danh sách top blogger có thu nhập cao nhất trên thế giới.

1. BoingBoing – 1 triệu USD/năm

Ra mắt 01-2000, với mệnh danh là “thư mục của hàng trăm thứ thú vị”, Boingboing hiện vẫn được coi là “ông vua blog” (the king) ở khả năng kiếm tiền. Luôn xếp hạng trên cùng theo thống kê của Technorati, trong tháng 06 vừa rồi, Boingboing có tới 22 triệu lượt page views, từ 2,2 triệu khách (unique visitor). Giá bán quảng cáo dao động từ mức 350 USD cho một “khoảnh đất” nho nhỏ một tuần tới 2000-3000 USD cho những banner lớn hơn với 170.000 lượt hiển thị. Federated Media hiện là đối tác bán quảng cáo cho “the king”.

Chỉ có 4 tác giả, nhưng BoingBoing cập nhật 20-40 lần mỗi ngày. Khởi nghiệp từ khá sớm, ông chủ của BoingBoing, hai vợ chồng Mark Frauenfelder và Carla Sinclair viết chủ yếu về các chủ đề khoa học viễn tưởng, máy tính, truyện tranh, công nghệ…BoingBoing tiếp tục hút khách và có tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc. Trang chủ boingboing.net

2. I Can Has Cheezburger?- 5.600 USD/tháng

Chỉ mới ra mắt hơn 2 năm (tháng 01-2007), I Can Has Cheezburger hiện kiếm được 5600 USD/tháng, dựa vào tỉ lệ truy cập mà blog này công bố. Những khoảnh khắc thú vị của các chú mèo đã giúp Cheezburger tăng lượng truy cập lên gấp đôi mỗi tháng. Cheezburger hiện có khoảng nửa triệu page views mỗi ngày.

Eric Nakagawa, tác giả của blog từng là một lập trình viên phần mềm đã quyết định bỏ hẳn công việc chuyên môn đã được đào tạo chỉ để tập trung chăm sóc cho Cheezburger. Thông qua đối tác Blogads, Cheezburger bán quảng cáo với mức khá cao. Một ví trị trên Cheezburger có giá 500 USD mỗi tuần. Thậm chí có những vị trí Cheezburger chào giá với mức 5400 USD/một tuần.

Cheezburger cũng bán quảng cáo thông qua Google AdSense và AdBrite. Hiện Cheezburger xếp thứ 26 trong số những blog được đặt liên kết nhiều nhất trên Technorati. Trang chủ icanhascheezburger.com

3. ShoeMoney 12.000 USD/tháng

Còn cách nào tốt hơn để kiếm tiền trực tuyến bằng chính việc xây dựng một blog chuyên cung cấp thông tin, cách thức thực hiện việc này. Ra mắt 10-2005, Jeremy Schoemaker, blogger 33 tuổi đã phát triển ý tưởng này một cách rất thành công. Chỉ cần dành mỗi ngày nửa giờ viết bài, blog của Jeremy Schoemaker vẫn thu hút được 20.000 lượt truy cập, đồng nghĩa 12.000 USD mỗi tháng.

ShoeMoney còn trở thành nền tảng để Schoemaker mở rộng cơ hội kinh doanh. AuctionAds, dịch vụ bán quảng cáo cho các trang đấu giá như eBay và các trang liên quan cùng với NextPimp.com, trang web bán nhạc chuông là những sản phẩm khác thuộc sở hữu Schoemaker mới là “nồi cơm” chính của anh. Doanh thu từ blog chỉ chiếm 3%. Nhưng nhờ vào chính ShoeMoney, vốn được xếp vào top 100 blog do Technorati bầu chọn, khách hàng đã tìm đến và tin tưởng hơn vào sản phẩm do Schoemaker sáng tạo và phát triển. Trang chủ shoemoney.com

4. Overheard in New York- 8.100 USD/tháng

Ra mắt 07-2003, Overheard in New York là đứa con tinh thần của Morgan Friedman, một kĩ sư phần mềm cùng 5 tác giả khác làm việc part-time. Đúng như tiêu đề blog, Overheard in New York đăng tải những nhận xét của bạn đọc giấu tên về những chuyện tầm phào, vui vẻ… hút khách. Ngay từ khi mới ra mắt, Overheard in New York đã tiềm ẩn khả năng sinh lời. Hiện giá quảng cáo do Blogads phân phối dao động từ mức 375 tới 6000 USD.

Overheard có 6 triệu page view mỗi tháng. Một cuốn sách lấy nội dung từ blog cũng đã được xuất bản. Sau thành công ban đầu, Overheard phát triển thành một mạng độc lập với 4 mảng: Overheard at the Office, Overheard at the Beach, Overheard Everywhere, và Celebrity Wit. Khách hàng ruột của Overheart là giới trẻ. Trang chủ overheardinnewyork.com

5. Kottke.org – 5.300 USD/tháng

Tự học hỏi để trở thành một nhà thiết kế web, Jason Kottke bắt đầu viết blog từ 1998 trên 0sil8, chuyên về thiết kế. Một năm sau, Kotter “chuyển nhà” về địa chỉ hiện tại. Hiện với khoảng 250.000 đến 300.000 lượt truy cập, Kotter kiếm được khoảng 5.300 USD mỗi tháng. Kottke.org cũng nằm trong 100 trang blog có liên kết tới nhiều nhất trên Technorati. Đối tượng độc giả của blog này chủ yếu là các nhà thiết kế. Kottke vẫn đang tiếp tục chinh phục độc giả bằng phong cách tổ chức chuyên nghiệp. Với blogger này, kiếm tiền không phải là mục tiêu hàng đầu. Phương châm hoạt động của Kottke vẫn là “cung cấp một địa chỉ thú vị với những dịch vụ hữu ích trên mạng, nhưng chỉ nhằm vào một nhóm nhỏ độc giả”. Trang chủ kottke.org

6. TalkingPointsMemo- 45.000 USD/tháng

Josh Marshall, chủ nhân của blog đã khởi nghiệp với những bài viết đầu tiên về chính trị. Ra mắt năm 2000, Marshall đã nhanh chóng thành lập một công ty truyền thông để quản lí TalkingPointsMemo. Với đội ngũ 6 phóng viên- biên tập viên, TalkingPointsMemo nổi tiếng với những câu chuyện mà các báo hàng ngày vẫn tránh đưa tin. Từ cuộc bầu cử 2004 (Mĩ), TalkingPointsMemo bắt đầu chuyển hướng hoạt động, trở thành địa chỉ quen thuộc cho những ai muốn đọc bình luận, phân tích về các bài viết của báo giới chính thống. Blogads trở thành đối tác quảng cáo từ 2003.

Với khoảng 500.000 page view mỗi tuần, hiện TalkingPointsMemo vẫn đang kiếm được khoảng 45.000 USD mỗi tháng. Trang chủ talkingpointsmemo.com

7. Perez Hilton – 111.000 USD/tháng

Đây là blog chuyên “kinh doanh” hình ảnh của các ngôi sao Hollywood bằng những tin tức nỏng hổi xoay quanh đời sống của các nhân vật giải trí nổi tiếng. Tác giả của blog hiện vẫn nổi danh là một anh chàng chăm chỉ, với khoảng 20 bài viết mỗi ngày. Mario Lavandeira tâm sự: “Các nhà quảng cáo tìm tới tôi vì blog của tôi thu hút được rất đông lượng truy cập. Sở dĩ có được điều ấy vì tôi là một tay blogger chăm chỉ”. Theo thống kê của Lavandeira, hiện Perez Hilton thu hút được khoảng 4 triệu lượt truy cập mỗi ngày. Ước tính, 3 banner quảng cáo trên blog giúp Lavandeira thu về mỗi ngày khoảng 40.000 USD. Hiện Lavandeira đã duy trì blog được 5 năm. Trang chủ perezhilton.com

8. Gothamist – 50.000-60.00 USD/tháng

Ban đầu là một blog “sạch”, Gothamist dần trở thành “nồi cơm” cho những blogger nhạy bén, giàu sức sáng tạo. Hiện, Gothamist đã trở thành một mạng tin tức, có nguồn từ các blog địa phương ở 14 thành phố khác nhau khắp các lục địa. Jake Dobkin, tác giả và đồng sáng lập cùng với người bạn, hiện là biên tập viên Jen Chung đã bắt đầu nhận ra khoản doanh thu đáng kể từ ý tưởng của mình. Thậm chí, cả hai phải thuê nhân viên bán quảng cáo cùng đội ngũ biên tập viên làm việc toàn thời gian ở 5 thành phố, một số biên tập viên khác làm part-time và đội ngũ cộng tác viên đông đảo góp bài.

Mỗi ngày, nhóm làm việc đăng tải khoảng 20 đến 25 bài trên các trang nổi tiếng nhất của mình, nhằm duy trì đều đặn khoảng 7 triệu page view mỗi tháng. Các nhà quảng cáo rất ưa hệ thống trang tin của Gothamist với đối tượng độc giả có trình độ, trẻ và thường giàu có. Hiện Gothamist đã có tuổi đời 6 năm. Theo sáng lập viên Dobkin, điểm mạnh của Gothamist chính là ở cả một mạng lưới tin tức tổng hợp theo vùng địa lý mà “các nhà xuất bản, blogger độc lập hay kể cả các mạng blog khác không có được”. Trang chủ có địa chỉ gothamist.com và 13 trang khác trong mạng có “đuôi” ist.

9. TechCrunch – 200.000 USD/tháng

Đây là một trong số các blog luôn đứng đầu danh sách bình chọn của Technorati. Chỉ mới ra đời cách đây 4 năm, TechCrunch mau chóng trở thành địa chỉ “hot” với giới công nghệ. Chưa đầy 1 năm từ ngày khởi nghiệp với blog, Michael Arrington, chủ nhân của TechCruch đã phải từ bỏ công việc chuyên môn để dành toàn tâm toàn ý cho đứa con tinh thần. Arrington bắt đầu mở rộng sản phẩm, khi giới thiệu một số blog mới về các chủ đề công nghệ chuyên sâu như thiết bị, điện thoại. Thậm chí Techcruch cũng bắt đầu ra mắt những chuyên trang bản ngữ dành cho Anh, Pháp và Nhật.

Federated Media hiện là đối tác bán quảng cáo cho Techcruch. Với 5 triệu page view mỗi tháng, số tiền kiếm được từ quảng cáo của Techcruch là tương đối khấm khá “Đối tượng hợp tác quảng cáo của chúng tôi là những ai muốn tiếp cận với độc giả sành công nghệ và thường sớm nhanh nhậy với các sản phẩm mới”. Song song với việc bán quảng cáo, Techcruch cũng tìm cách kiếm thêm doanh thu bằng việc tổ chức các hội thảo chuyên đề. Trang chủ techcrunch.com

10. Go Fug Yourself – doanh thu 6240 USD/tháng
Sau khi gặt hái thành công với nghề mới, Heather Cocks và Jessica Morgan, 2 tác giả blog đã quyết định bỏ công việc trên truyền hình để dành toàn tâm trí cho Go Fug Yourself. Công việc bếp núc hàng này của 2 blogger này là lấy ảnh từ các sự kiện, nhân vật trong giới showbiz, thêm bình luận và…xuất bản. Kết quả là, mỗi tháng Go Fug Yourself thu hút được 3,5 triệu lượt khách truy cập. Hệ thống quảng cáo được giao cho Blogads. Một dòng quảng cáo trên Go Fug Yourself là 60 USD trong vòng 1 tuần. Những banner sang trọng ở vị trí đắt nhất được bán với giá 3000 USD. Cocks cho hay: những ý tưởng tầm phào ban đầu khi tán róc với người bạn cách đây 2 năm đã hình thành nên công ty ngày hôm nay. Trang chủ gofugyourself.typepad.com

11. Mashable- 166.000 USD/tháng

Pete Cashmore khởi nghiệp viết lách với Mashable 2 năm trước đây. Hiện, anh dành toàn tâm trí cho việc phát triển đứa con tinh thần: “Quả là các blogger không có thời gian để ngủ.” Mashable được xếp thứ 15 theo đánh giá của Technorati. Mục tiêu của blog này là tập trung vào mạng xã hội và các xu hướng trực tuyến khác. Với 4 triệu page view mỗi tháng, Cashmore khẳng định, blog của anh là một trong số những địa chỉ được truy cập đông nhất giữa các blog cùng chủ đề. Tuy nhiên, ban đầu, Cashmore không có ý định sẽ sống nhờ vào Mashable. Hiện Federated Media là đối tác bán quảng cáo cho blog. Trang chủ mashable.com

12. Problogger – 100.000 USD/năm

Tác giả của Problogger là Darren Rowse với một loạt blog khác nhau. Không tiết lộ chi tiết thu nhập nhưng qua 6 hệ thống bán quảng cáo mà anh đang “nhờ vả” trong đó có Chitika, Google AdSense, Text Link Ads, và Amazon Associates, ước tính, ít nhất mỗi năm Rowse cũng có thể kiếm được tấm séc 5 con số. Rowse dành sự quan tâm cho hàng loạt chủ đề như tôn giáo, ảnh số, máy chụp hình, Olymics, viết blog. Trang chủ problogger.net

13. Michelle Malkin và Hot Air – doanh thu: không tiết lộ

Với 220.000 khách truy cập mỗi ngày, nữ tác giả của blog, Michelle Malkin vẫn phải hàng ngày lo sốt vó vì tình trạng băng thông tốn kém. Hot Air là blog chuyên đăng tải các video “cây nhà lá vườn”. Cùng với một nhóm cộng tác, Malkin vẫn đang “sống khỏe” nhờ vào sự chăm chỉ và óc sáng tạo, bất kể những tốn kém khi khởi nghiệp. Mặc dù không tiết lộ khoản thu nhập kiếm được từ blog, tờ Businessweek vẫn đánh giá rất cao tiềm năng của Michelle Malkin và Hot Air. Trang chủ michellemalkin.com và hotair.com.

Nhật Vương

10 câu nói bất hủ của Bill Gates

Trước khi về hưu vào đầu tháng 7 năm 2008, Bill Gates – ông chủ của tập đoàn máy tính lớn nhất thế giới Microsoft – đã đưa ra 10 lời khuyên dành cho các bạn thanh niên trên con đường lập nghiệp.

1. Thế giới vốn không công bằng. Bạn biết điều này chứ? Dù bạn có nhận thấy sự bất công trong xã hội hay không thì cũng đừng hy vọng làm thay đổi được nó. Việc cần làm là hãy thích nghi với nó.
(Sở dĩ như vậy là một mình bạn sẽ không thể nào làm thay đổi được sự bất công trong xã hội)

2. Mọi người sẽ không bao giờ ngó ngàng đến lòng tự trọng của bạn, điều mà họ quan tâm chính là thành tựu mà bạn đạt được. Do đó, trước khi có được những thành tựu thì bạn đừng nên quá chú trọng hay cường điệu lòng tự trọng của bản thân mình lên.
(Lòng tự trọng quá cao sẽ tỷ lệ thuận với sự bất lợi trong công việc của bạn)

3. Thường thì bạn sẽ không thể trở thành CEO nếu chỉ mới tốt nghiệp trung học. Nhưng khi bạn đã trở thành một CEO thì không còn ai để ý là bạn mới chỉ có tốt nghiệp trung học nữa.
(Lúc này người ta sẽ đánh giá và quan tâm nhiều đến năng lực hơn là bằng cấp của bạn)

4. Khi bạn gặp khó khăn hay bế tắc trong công việc thì đừng có oán trách số phận. Điều bạn học được khi gặp trắc trở chính là kinh nghiệm và bài học để lần sau không bao giờ mắc phải nữa.
(Điều cần làm lúc này là trấn tĩnh và bắt tay làm lại từ đầu)

5. Nên hiểu một điều rằng: Trước khi có bạn, bố mẹ bạn không phải là những người “chán ngắt, vô vị” như bạn của ngày hôm nay đã nghĩ. Đây chính là cái giá rất lớn mà bố mẹ đã phải trả cho sự trưởng thành của bạn.
(Bạn phải có nghĩa vụ đền đáp công ơn với những người đã dành cả cuộc đời mình cho sự sống và trưởng thành của bạn)

6. Khi đi học, bạn đứng thứ mấy trong lớp cũng không phải là vấn đề quan trọng. Nhưng khi đã bước chân ra xã hội thì mọi việc lại không đơn giản như vậy. Dù đi đâu hay làm công việc gì bạn cũng nên tạo đẳng cấp cho mình.
(Luôn tự nhủ rằng bạn sẽ luôn là người đứng đầu, như vậy bạn sẽ có động lực và tinh thần nhiều hơn cho sự nghiệp của bản thân)

7. Khi đi học, bạn luôn mong chờ đến ngày nghỉ lễ, Tết. Khi đi làm thì hoàn toàn không giống vậy, dường như là bạn sẽ không được nghỉ ngơi. Công việc sẽ cuốn bạn đi bất cứ lúc nào kể cả ngày nghỉ.
(Nếu là một nhân viên luôn mong chờ ngày nghỉ lễ thì bạn sẽ bị lạc hậu hơn so với những nhân viên khác. Sự lạc hậu này còn luôn đồng hành với sự đào thải và thất nghiệp).

8. Khi ngồi trên ghế nhà trường, lúc gặp khó khăn trong học tập thì có giáo viên giúp đỡ bạn. Tuy nhiên, nếu lúc đó bạn lại cảm thấy mọi khó khăn đều do những yêu cầu quá nghiêm khắc từ phía giáo viên thì bạn đừng nên đi làm sau khi tốt nghiệp. Đơn giản nếu như không có những yêu cầu nghiêm khắc từ phía công ty thì chắc chắn bạn sẽ không làm được gì và sẽ nhanh chóng thất nghiệp, hơn nữa lúc này sẽ không có ai giúp đỡ bạn cả.
(Nên nhận thức được rằng: Công ty sẽ luôn yêu cầu cao hơn rất nhiều so với trường học. Vì ở trường học, dù bạn có học được hay không thì chỉ ảnh hưởng đến cá nhân bạn. Còn ở công ty bạn có làm được việc hay không thì lại ảnh hưởng đến rất nhiều người)

9. Mọi người đều thích xem phim truyền hình, nhưng bạn không nên xem nhiều vì đó không phải là cuộc sống của bạn. Vì công việc ở công ty mới phản ánh cuộc sống thực của bạn.
(Bạn không nên xem nhiều vì tư tưởng của bạn sẽ bị ảnh hưởng bởi những bộ phim truyền hình đó. Cuộc sống của bạn nên do bạn quyết định)

10. Không bao giờ phê bình người khác sau lưng của họ, đặc biệt đừng bao giờ phê phán sếp là người không có năng lực, điều này là không đúng.
(Nếu bạn có thắc mắc gì trong công việc thì nên nói ý kiến của mình trước mặt mọi người. Còn nếu như bạn luôn giữ thái độ và hành động phản kháng sau lưng người khác thì chỉ có bất lợi cho bạn mà thôi).

Theo VNN

Tại sao Việt Nam không có doanh nghiệp vĩ đại

Mời bạn đọc một bài hay do mình tình cờ sưu tầm được.

Ở tất cả các nước trên thế giới đều có những doanh nghiệp lớn nhưng chỉ ở một số nước có những doanh nghiệp vĩ đại. Nhìn vào Danh sách doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam về doanh thu – Bảng xếp hạng VNR500, có thể thấy ở Việt Nam có những doanh nghiệp lớn nhưng trong số đó chưa thể kể ra một doanh nghiệp vĩ đại.

Cuốn sách Từ tốt đến vĩ đại của Jim Colins đã và đang gây sự chú ý của giới doanh nhân và các nhà quản lý trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Qua quá trình nghiên cứu, phân tích hàng loạt các công ty, tác giả đã đưa ra những phát hiện gây ngạc nhiên đến mức sững sờ về những công ty vĩ đại với những “bí quyết” tạo nên những bước thành công nhảy vọt và trường tồn qua thời gian. Những “bí quyết” này hoàn toàn không giống như, thậm chí có lúc trái ngược với những gì mà lâu nay người ta vẫn tưởng về nguồn gốc của sự thành công hay thất bại ở một công ty. Theo Jim Colins, một công ty được coi là vĩ đại trước hết phải có bước nhảy vọt và trong 15 năm tiếp theo lợi nhuận tích luỹ cao hơn thị trường chung ít nhất 3 lần và có thể lấy ví dụ của Abbott, Gillette, Philip Morris như những công ty vĩ đại. Theo chúng tôi, những công ty như General Electric, Intel, Wal-Mart, Walt Disney…trong mọi trường hợp cũng phải được gọi là những công ty vĩ đại vì những đóng góp của các công ty đó đối với nhân loại.
Khi tuyển chọn các công ty nhảy vọt và coi đó là dấu hiệu của sự vĩ đại, Jim Colins đã đưa điều kiện là các công ty này phải có mặt trong Danh sách Fortune 500 – danh sách các công ty hàng đầu của Mỹ được xếp hạng dựa theo doanh thu hàng năm. Lựa chọn những công ty vĩ đại từ những công ty hàng đầu chắc chắn sẽ dễ dàng hơn vì các công ty này đã thỏa mãn một số tiêu chí cơ bản. Ở Việt Nam, khi lựa chọn những công ty xuất sắc có lẽ cũng nên dựa trên Bảng xếp hạng VNR500 – Bảng xếp hạng được xây dựng theo mô hình Fortune 500.

Ở Việt Nam chưa có những doanh nghiệp vĩ đại. Jim Colins đang nói về những doanh nghiệp từ “tốt” chuyển lên thành “vĩ đại” (good to great), trong khi đa số các doanh nghiệp Việt Nam chỉ mới đang ở trong tình trạng “tầm tầm” (something), thậm chí “chưa là gì” (nothing) so với thế giới. Chúng tôi thấy rằng để xây dựng những doanh nghiệp vĩ đại trước hết cần có tham vọng của những người lãnh đạo công ty, trên hết là vì công ty và lo lắng cho sự thành công của công ty hơn cho sự giàu có của cá nhân hay danh tiếng của bản thân. Như đã phân tích ở trên, để trở thành doanh nghiệp vĩ đại, trước hết phải là doanh nghiệp lớn nhưng dường như vấn đề sở hữu đang là cản trở để lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước đưa doanh nghiệp mình trở thành doanh nghiệp vĩ đại. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp rất thành công nhưng trở ngại chủ yếu vẫn là vấn đề cơ chế, chính sách và năng lực, quy mô – dù người chủ doanh nghiệp có tham vọng đưa doanh nghiệp trở thành doanh nghiệp vĩ đại nhưng không phải lúc nào cũng có điều kiện thực hiện tham vọng ấy. Ở đây không thể phủ nhận vai trò của người đứng đầu doanh nghiệp với tham vọng, ý chí và sự khiêm nhường. Lãnh đạo doanh nghiệp nhảy vọt không bao giờ để cái tôi xem vào tham vọng lớn của mình, có sự điềm tĩnh che giấu quyết tâm cao độ, cống hiến hết mình để đưa doanh nghiệp tiến lên mà không hề nghĩ đến những gì được nhận lại.

Có ý kiến cho rằng người chủ doanh nghiệp tỉnh táo cần biết chọn lựa giải pháp phù hợp cho doanh nghiệp mình, không nhất thiết phải hòa nhập một cách khiên cưỡng vào những tư tưởng vĩ đại, nhưng quá xa lạ với hoàn cảnh riêng của doanh nghiệp mình. Theo chúng tôi, lãnh đạo doanh nghiệp cần có tham vọng lớn mới có thể đưa doanh nghiệp phát triển lên những tầm cao mới.

Để xây dựng doanh nghiệp vĩ đại cần có những con người phù hợp nhưng trở ngại của các doanh nghiệp Việt Nam là chưa có được đội ngũ nhân sự phù hợp. Nhiều doanh nghiệp đã bước đầu nhận thức được “Con người là tài sản quý giá nhất của công ty” tuy nhiên vẫn vấp phải trở ngại về sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước và trở ngại về tính cách cá nhân đối với các doanh nghiệp tư nhân. Một nguyên tắc quan trọng là cần giao cho người giỏi cơ hội tốt nhất để thể hiện khả năng của mình nhưng ở các doanh nghiệp Việt Nam thường giao cho người giỏi công việc khó để những người này dễ… thất bại.

Để vượt lên từ lớn đến vĩ đại đòi hỏi phải vượt qua được trở ngại về năng lực nhưng vấn đề quan trọng không kém là vấn đề chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải chọn một lĩnh vực làm trọng tâm và trở thành doanh nghiệp tốt nhất trong lĩnh vực đó. Theo Jim Colins, các công ty nhảy vọt hiểu rằng nếu tiếp tục làm như những gì mình làm tốt thì mãi vẫn chỉ đạt mức tốt. Tập trung vào điều gì có tiềm năng làm tốt hơn bất cứ doanh nghiệp nào khác mới là con đường đưa đến vĩ đại. Trên thực tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp hàng đầu đang loay hoay theo hướng kinh doanh đa ngành nghề, gió chiều nào theo chiều ấy mà chưa tập trung và xác định việc kinh doanh cốt lõi (core business) của mình. Điều an ủi đối với các doanh nghiệp Việt Nam rút ra từ kinh nghiệm của các công ty vĩ đại của Mỹ là không nhất thiết phải hoạt động trong một ngành công nghiệp vĩ đại mới tạo dựng được kết quả vĩ đại mà bền vững và một công ty nhảy vọt trung bình cần 4 năm để tìm ra chiến lược, tìm ra lĩnh vực mà họ đam mê.

Cần phải nhìn nhận rằng bên cạnh các yếu tố kể trên, công nghệ chính là bàn đạp để các doanh nghiệp nhảy vọt và trở nên vĩ đại. Năm 1865 Nokia được thành lập với tư cách là công ty chuyên sản xuất giấy và bột giấy, sau đó phát triển thành công ty sản xuất giấy, cao su và đồ điện tử. Năm 1990 Nokia quyết định chỉ tập trung vào kinh doanh công nghệ số – công nghệ viễn thông di động và đã tuyển dụng 13.000 nhân viên trong nghiên cứu và phát triển. Hiện tại có thể nói các doanh nghiệp Việt Nam chưa chú ý, chưa có điều kiện để đầu tư phát triển công nghệ. Kinh nghiệm cho thấy không có công ty nhảy vọt nào bắt đầu quá trình chuyển đổi bằng việc trở thành tiên phong công nghệ tuy nhiên phải trở thành tiên phong trong việc áp dụng công nghệ một khi không nghệ này phù hợp với chiến lược phát triển của công ty. Tìm hiểu một số nguyên nhân tạo ra bước nhảy vọt của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp trở nên vĩ đại, chúng ta dễ dàng giải thích tại sao ở Việt Nam chưa có những doanh nghiệp vĩ đại nhưng qua đó, chúng ta vẫn có quyền hy vọng một ngày nào đó, Việt Nam cũng có những công ty sánh ngang tầm thế giới. Từ lớn đến vĩ đại là một khoảng cách thật xa mà cũng không xa.

TS. Phạm Trí Hùng

80/20 QUI LUẬT VÀNG CỦA MỌI THỜI ĐẠI

Vào một lúc nào đấy trong cuộc sống, chúng ta sẽ biết qua quy luật 80/20. Khá đơn giản, vì quy luật này nói lên rằng với 20% nỗ lực sẽ tạo ra 80% kết quả cuối cùng.

Có thể bạn đã biết đến quy luật này dưới cái tên “Quy luật Pareto” hay “Quy luật nỗ lực tối thiểu”. Tôi dám chắc với bạn rằng, đây là một khái niệm tiềm ẩn bên trong nó nguồn sức mạnh to lớn. Hy vọng qua bài viết này, bạn sẽ định hướng được thời gian và sức lực của mình vào những việc có thể mang lại kết quả khả quan nhất.

Tổng quan về quy luật 80/20

Vào năm 1897, Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Italia, trong khi đang học về sự phân bố của cải và thu nhập tại nước Anh trong thế kỷ 19, đã phát hiện ra, phần lớn diện tích đất đai và thu nhập được kiểm soát bởi một lượng nhỏ số người trong xã hội. Trên thực tế, 20% dân số kiểm soát đến 80% của cải và thu nhập.

Trong những phân tích và nghiên cứu tiếp theo, nhà kinh tế học huyền thoại này đã phát hiện ra rằng, nguyên tắc này không chỉ đúng trong nhiều quốc gia, giai đoạn lịch sử mà còn đúng với những gì xảy ra ngay trong khu vườn ông ta. Ở đây, ông ta thấy được, chỉ 20% cây đậu Hà Lan ông trồng đã cho ra đến 80% hạt đậu mà ông thu hoạch được.

Từ khi quy luật này ra đời, nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát biểu tương tự như: 20% tội phạm là nguyên nhân của 80% các vụ phạm tội. 20% số người lưu thông trên được tạo ra 80% các vụ tai nạn. 20% tuyền đường chiếm 80% lưu lượng xe cộ hàng ngày. 20% những lỗi hàng hoá làm nảy sinh 80% các vấn đề rắc rối.

Thường gặp nhất là chúng ta vẫn nghe nói rằng, 20% khách hàng tạo ra 80% lợi nhuận cho một doanh nghiệp.

Tôi tin rằng, các bạn thử quan sát xung quanh mình hay nhìn lại quỹ thời gian hàng ngày, hãy xem những kết quả bạn đạt được, chúng xảy ra theo quy luật 50/50 hay 80/20?

Richard Kock, người sáng lập ra Bain & Co và BCG Consultant, từng khẳng định rằng: “20% việc chúng ta làm tạo ra 80% kết quả, nhưng 80% công việc còn lại chỉ tạo được 20% kết quả cuôi cùng mà thôi. Chúng ta đang phí phạm 80% thời gian của mình vào những việc kém hiệu quả”. Vậy lời khuyên của Koch là, thay vì cật lực theo đuổi tất cả các cơ hội sẵn có, chúng ta hãy bình tĩnh hơn, làm việc ít hơn và tập trung định hướng vào những mục tiêu có giá trị nhất dựa trên cách suy nghĩ của quy luật 80/20”.

Luật 80/20 trong cuộc sống kinh doanh

Vài tháng trước, tôi có nói chuyện một người bạn làm trong lĩnh vực in ấn quảng cáo. Anh ta đang cố gắng mở rộng hệ thống và muốn tìm kiếm những khách hàng tiềm năng mới. Rất tiếc, anh ta chỉ đủ thời gian để quản lý hệ thống những khách hàng sẵn có, nên chưa thể phát triển được. Khi tôi nói về quy luật 80/20, anh ta phát hiện ra rằng, chỉ có khoảng 20% khách hàng đem lại hầu hết lợi nhuận trong công ty. Trong khi, 80% số khách hàng hiện tại chẳng những không đem lại nhiều lợi nhuận mà đôi khi còn khiến anh ta mệt mỏi. Có thể còn nhiều yếu tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp, xây dựng chiến lược kinh doanh trong trường hợp này, nhưng điều tôi muốn nói ở đây là, quy luật 80/20 tồn tại trong nhiều trường hợp hiển nhiên, đến mức chúng ta đôi lúc chẳng nhận ra sự hiện diện chúng.

Ngày nay, mở rộng kinh doanh có lẽ là mong muốn của hầu hết các doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp dường như luôn thích thú với ngọn núi bên cạnh hơn là ngọn núi mình đang đứng. Kết quả, họ mất đi sự tập trung cần thiết để duy trì và phát triển thế mạnh của mình. Trong khi lẽ ra phải tập trung hơn vào sở trường, họ lại thích dàn trải hơn và trong hầu hết các trường hợp, kết quả kinh doanh thường bi quan hơn.

Trên thị trường, có rất nhiều chủng loại sản phẩm mà ở đây, 20% thương hiệu đứng đầu chiếm đến 80% thị phần. Đó cũng chính là lý do vì sao tập đoàn GE có lúc đã bán đi tất cả thương hiệu không phải là đứng đầu hay đứng thứ hai. Trong kinh doanh nói chung và marketing nói riêng, tập trung luôn là một vấn đề cốt lõi và cần thiết để thành công. Cho dù đó là một thành công về thị phần, doanh thu hay sự phát triển dài hạn trong tương lai. Vậy ngay hôm nay, hãy xác định những sản phẩm hay khách hàng nằm trong “Top 20%” của mình và dành cho họ nhiều thời gian và nỗ lực, bạn nhé!

Nghiên cứu – học tập

Bạn thường đọc một cuốn sách như thế nào? Từ trang này sang trang khác? Như vật, bạn đang lãng phí rất nhiều thời gian của chính mình. Thông thường, 80% những thông tin có giá trị nhất gói gọn trong 20% nội dung của quyển sách và nó thường chỉ chiếm 20% thời gian so với khoảng thời gian hầu hết mọi người xem xong toàn bộ quyển sách.

Nếu bạn đọc một quyển sách hay tài liệu để giải trí, tôi khuyên bạn hãy thử đọc mục lục và phần giới thiệu đầu tiên. Sau đó, là phần kết luận trước khi sang chương đầu, xem qua các biểu đồ, hình vẽ nếu có. Quay lại phần kết luận một lần nữa và có thể xem chi tiết vài phần bạn cảm thấy thật sự thú vị. Với cách đọc như vậy, bạn sẽ nắm được nội dung chính yếu nhất của quyển sách. Tốt hơn nữa, bạn có thể ghi chú lại hoặc làm “slide” tóm tắt về nó. Việc cần và nên làm là, nhớ xem chúng ta có thể tìm được thông tin cần thiết ở đâu từ tài liệu đã xem trong thời gian ngắn nhất. Trong thế giới tràn ngập những thông tin quá tải như hiện nay, việc rèn luyện và tuân thủ theo quy luật 80/20 là cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.

Xã hội

Hãy ngẫm lại xem, có lẽ bạn sẽ nhận ra rằng, 20% số bạn bè của bạn đem đến cho bạn 80% niềm vui và sự hài lòng. Có vẻ hơi khó nghe nhưng tại sao bạn không dùng nhiều thời gian gặp gỡ những người bạn giúp bạn cảm thấy vui vẻ và thoải mái hơn những người bạn khác? Giữ cho tinh thần thoải mái cũng là một yếu tố rất quan trọng để giữ gìn sức khoẻ và đạt được thành công trong công việc. Vậy tại sao không áp dụng ngay quy luật 80/20 này vào cuộc sống để xem bạn sẽ cảm thấy thoải mái và dễ chịu hơn như thế nào?

Tổng kết

Theo Richard Koch, “Quy luật 80/20, có thể giải phóng bạn. Bạn có thể làm việc ít hơn mà vẫn có thể kiếm nhiều lợi nhuận hơn, vui vẻ và nhàn nhã hơn”.

Hiện tại, người ta đã nói đến quy luật 90/10. Trên thực tế, 10% dân số thế giới đang nắm giữ 90% tài sản, trong khi 90% dân số còn lại chỉ sở hữu có 10% toàn bộ tài sản trên thế giới. Nỗ lực tối thiểu đang tạo ra kết quả to lớn hơn, đòi hỏi chúng ta cần phải tập trung cao độ hơn. Nếu bạn muốn nằm trong số 10% dân số nói trên, tôi tin rằng quy luật này rất cần thiết và hữu ích cho bạn.

Sau cùng, xin nhớ rằng, cố gắng ít hơn và kết quả cao hơn mới là những điều thật sự tốt. Hãy bắt đầu tìm kiếm và củng cố 20% của riêng mình để tiếp tục nâng hiệu quả làm việc lên gấp nhiều lần, bạn nhé!

(sưu tầm)

Kinh nghiệm của Microsoft: 12 bí quyết thành công

Khởi đầu chỉ là hai người bạn cùng làm việc chung trong một cǎn phòng nhỏ tại ký túc xá. Rồi từng bước, Bill Gates đã đưa Microsoft nhanh chóng trở thành một trong những công ty máy tính hàng đầu ở Mỹ. Bí quyết của Microsoft là gì?

Chính Microsoft đã tổng kết được 12 kinh nghiệm.

1. Phải chiếm lĩnh 100% thị trường. Đây là mục tiêu chính được đặt ra cho tất cả các nhân viên trong toàn công ty. Mỗi quyết định, mỗi cuộc họp, mỗi sáng kiến, mỗi mẫu thiết kế sản phẩm… đều phải hướng tới mục tiêu cơ bản và hàng đầu này.

2. Chỉ tập hợp những người giỏi nhất. Microsoft tuyển dụng nhân sự rất khắt khe, kiên quyết chỉ thuê nhận vào làm việc những người giỏi, thực sự có nǎng lực. Bởi những người mới được tuyển dụng sẽ là đồng nghiệp, đồng sự và sẽ cùng làm việc; không ai được trở thành gánh nặng cho người khác. Microsoft cho rằng, chất lượng nhân sự là quan trọng nhất, và quyết định đến nǎng suất của công ty.

Không có hệ thống quản lý nào dù tốt đến đâu có thể bù đắp được sự thiếu thốn lực lượng nhân viên giỏi, nhưng có thể ngược lại

3. Dám đánh cược cả công ty. “Chúng ta sẵn sàng đặt cược tương lai cả công ty cho hệ điều hành Windows” – Bill Gates từng tuyên bố như vậy, nhưng 3 nǎm sau ông lại tuyên bố: “Chúng ta đặt cược tương lai cả công ty cho mạng Internet”.

Ngay sau khi một sản phẩm mới của công ty chiếm lĩnh được thị trường, Microsoft liền nhanh chóng tìm cách loại bỏ nó, thay nó bằng một sản phẩm mới tốt hơn. Điều này có nghĩa là Microsoft luôn luôn tìm cách cải tiến các sản phẩm của mình.

4. Sẵn sàng chịu thất bại. Những nhân viên của Microsoft không bao giờ bị khiển trách khi không may gặp những sai lầm, hay thất bại trong quá trình làm việc (trừ những trường hợp quá mức); và sẽ được thưởng xứng đáng khi thành công. Do đó, mọi người luôn cố gắng, mà không phải lo lắng về những thất bại có thể xảy ra. Với Microsoft, thất bại là điều bình thường! Không ai có thể thành công mà không từng thất bại.

5. Nâng cao nǎng lực của nhà quản lý. Các nhà quản lý phải có kiến thức về chuyên môn. Yêu cầu của Microsoft là các nhà quản lý phải hoàn toàn hiểu rõ, và thực sự có khả nǎng làm được công việc mà nhân viên cấp dưới đang thực hiện. Ví dụ các nhà quản lý các nhóm lập trình đều là những lập trình viên có trình độ thuộc loại khá đến xuất sắc, kể cả chính Bill Gates.

6. Sự quan tâm cao nhất của người quản lý. Tại Microsoft, công việc của từng người và từng bộ phận luôn được các nhà quản lý kiểm soát chặt chẽ, và điều chỉnh kịp thời nhằm đạt tới mục tiêu chung của toàn công ty. Các nhà quản lý, kể từ Bill Gates, đều có thể nhanh chóng tập trung mọi nǎng lực để dễ dàng giải quyết các vấn đề phát sinh.

7. Tính đoàn kết và tinh thần đồng đội. Đây là một yếu tố quan trọng đối với mọi công ty, nhất là các công ty mới thành lập. Tại Microsoft, mọi người đều ý thức rõ rệt được tinh thần này. Đoàn kết và tinh thần đồng đội là ưu thế quan trọng của công ty đối với sự cạnh tranh gay gắt để phát triển trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

8. Qui mô và cấu trúc công ty nǎng động, hiệu quả. Microsoft nhận ra rằng: một công ty phát triển càng lớn thì càng dễ trở nên trì trệ; và các thủ tục hành chánh rườm rà sẽ trở nên quan trọng hơn chính công việc… Do đó, Microsoft đã được tổ chức như một tập hợp nhiều công ty nhỏ, với các chức nǎng độc lập: thiết kế, thử nghiệm, tiếp thị, kinh doanh. Phần lớn các chức nǎng được công ty thực hiện một cách riêng biệt trong mỗi dự án, bằng cách tổ chức nhiều nhóm nhân viên riêng biệt trong công ty, mỗi nhóm có một tiến trình hoạt động tốt nhất cho mình. Nhờ vậy, hoạt động của công ty nǎng động và có hiệu quả hơn.

9. Thực hiện tiết kiệm tối đa. Tại Microsoft không hề sử dụng một thư ký nào làm việc. Ngay cả Bill Gates và các phó chủ tịch, mỗi người chỉ có một trợ lý với trách nhiệm rất khác xa so với trách nhiệm của một thư ký. Các trợ lý này giúp nhà quản lý trong việc điều hành các nhóm nhân viên, họ được phép có những quyết định khi cần thiết. Tất cả mọi người trong công ty, kể cả Bill Gates đều tự mình đánh máy, đọc e-mail khi làm việc.

10. Tạo ra động lực để mọi người luôn nỗ lực. Động lực chính để thúc đẩy mọi người tích cực và hứng thú làm việc là mọi người được đánh giá qua hiệu suất và mức độ thành công. Nỗ lực làm việc của người này cũng là áp lực để đồng nghiệp tích cực làm việc hơn.

11. Không nên phổ biến hóa những sai phạm. Không như các công ty khác, thường đề ra các qui định kỹ lưỡng để bảo đảm mọi người (kể cả kém nhất) làm đúng những gì công ty muốn. Microsoft chủ trương: tất cả các nhân viên của mình đều là những người thông minh và vì vậy có thể xử sự khôn ngoan hơn, ví như nếu như có ai đó không hành động như ý muốn của công ty, công ty chỉ xử lý riêng cá nhân này, chứ không cần đề ra những qui định dài dòng, không cần thiết đối với nhiều người khác.

12. Tạo điều kiện cho nhân viên thoải mái như ở nhà. Tại Microsoft, các nhân viên được làm việc trong những điều kiện hoàn toàn thoải mái như ở nhà: các vǎn phòng riêng biệt, và có thể tự sắp xếp bố trí lại vǎn phòng theo sở thích riêng. Không có qui định nào về cách ǎn mặc. Bởi mối quan tâm hàng đầu là công việc, chứ không phải là cái gì đó khác.

(sưu tầm)